LINH ĐẠO DÒNG PHAN SINH TẠI THẾ (OFS) SỐNG PHÚC ÂM ĐỨC GIÊSU KITÔ-ĐI TỪ PHÚC ÂM ĐẾN CUỘC SỐNG-VÀ TỪ CUỘC SỐNG ĐỀN PHÚC ÂM

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

:ĐẠI HỌC KITÔ GIÁO : TRƯỜNG DẠY BÁC ÁI YÊU THƯƠNG



Người Kitô hữu khi yêu một người nào đó dứt khoát không phải vì ngoại hình hấp dẫn, không phải vì mối tương quan máu mủ, đồng hương .
 Tôi yêu bạn đơn giản vì bạn là một con người cũng như tôi: chỉ có con người như chúng ta mới có khả năng yêu và đón nhận tình yêu ấy.
Tình yêu Thiên Chúa
Người Kitô hữu yêu người đồng loại vì nhìn thấy nơi họ hình ảnh của Thiên Chúa , bất kể mọi khác biệt về giới tính, màu da, tiếng nói, tín ngưỡng. 

Vì tất cả mọi người đều được sáng tạo giống hình ảnh của Thiên Chúa, nên tất cả mọi người đều được Thiên Chúa ban cho nhân phẩm, nhân vị, nhân quyền bằng nhau.

 Phẩm giá con người là ơn ban của Thiên Chúa, chứ tuyệt đối không do bất kỳ ai hoặc cơ chế phàm nhân nào cấp phát. Do đó, nhân phẩm, nhân vị, nhân quyền của con người là bất khả xâm phạm, bất khả hoán chuyển, bất khả hủy hoại đối với bất kỳ một quyền lực kinh tế, chính trị nào ( Giáo Huấn Xã Hội Của Hội Thánh Công Giáo, số 153).

Trong Tin Mừng Mt . Chúa Giêsu Kitô đã dạy  Mến Chúa và Yêu Người là 2 Giới Luật vĩ đại nhứt và cốt yếu nhứt, đồng thời Người còn nhấn mạnh tình yêu anh chị em đồng loại chính là căn tính thật sự của một Kitô hữu 
.
 Rồi có đến một ngày mỗi người Kitô hữu phải trình diện trước Tòa Án Tối Cao của Chúa, và chỉ có một câu chất vấn được nêu lên: 

“Con có tận tình yêu thương, giúp đỡ khi xưa  ta đói ,ta khát,ta bần cùng rách rưới ,ta đau ốm tật nguyền ,vì ta hiện diện trong người anh em con đồng loại con ,con có thấy không ,và con có thực hành lời Ta không .Ngần ấy chỉ một lời Ta hỏi con.

Vậy thì cuộc đời người tín hữu của Chúa Kitô phải là một cố gắng không ngừng , là cố gắng theo học Trường “ Đại Hoc Yêu Thương” do chính Chúa Giê su thiết lập không đòi hỏi bằng cấp ngoài đời ,chỉ cần chứng nhận Bí tích Thanh Tẩy do Cha Chánh xứ cấp là được vô học ngay, Trường dạy yêu thương có 3 cấp: Nhất Ái, Nhị Ái, và Bác Ái.Đặt biệt là không có qui định thời gian,thời gian là do học viên tự quyết định .

Nhất Ái: Ở trình độ nhập môn nầy, học sinh được dạy phải biết “thương người như chính mình vậy ”. Tôi có hai ngàn , thấy người ăn xin đang đói khát . Tôi chia cho người ăn xin một ngàn . Thế là tôi đã có thể tốt nghiệp cấp I rồi.
Nhị Ái: “ Yêu thương tha nhân ” là chỉ tiêu của trình độ trung cấp hoặc cao đẳng. Bạn học quên mình hoàn toàn, để chỉ chăm lo cho mọi nhu cầu của tha nhân. Bạn đặt mình vào vị trí của tha nhân, ước mơ những gì họ ước mơ, và bằng mọi giá, giúp họ thực hiện những ước mơ đó mà chẳng kể công, cũng chẳng trông được đáp đền ,tôi đả có thể tốt nghiệp cấp II rồi đấy .
Bác Ái: Mến Chúa và yêu người .Là trình độ cao nhứt, sâu nhứt, rộng nhứt, vĩ đại nhứt của tình yêu.Thế là tôi đã tốt nghiệp và được đặt cách vào Sơ đẳng Thần Học chuyên ngành Yêu Thương. và nhận Bằng tốt nghiệp Thần Học chính qui.

MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Và chính lúc không ngờ ,với bằng cấp tốt nghiệp đó .Là hành trang cho chúng ta đi về quê hương Nước Trời .Và diện kiến trước nhan Thánh Chúa.Và tùy vào lòng thương xót Chúa.

Xin chúc các anh chị em tôi luôn cố gắng học và tốt nghiệp ,bản thân tôi củng luôn cố gắng vì đã được 62 năm trong ơn sủng mà không biết mình cố gắng học tới cấp nào các anh chị em ơi.Vì không biết ngày nào ,giờ phút nào Chúa gọi tôi,thôi thì cứ cố gắng và cố gắng không ngừng .Hy vọng nếu còn thiếu sót thì xin cậy vào lòng thương xót Chúa mà thôi.






Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

MẾN CHÚA ĐI ĐÔI VỚI YÊU NGƯỜI:




Một hôm có một người khách đến thăm tu viện thuộc dòng Thừa Sai Bác Ái do Mẹ Têrêsa sáng lập. Ông ta nhìn thấy các sơ vừa đem về tu viện một bệnh nhân sắp chết, được tìm thấy đang nằm trên vỉa hè cạnh một lỗ cống xông lên hôi thối. Trên mình người này đầy những chí rận. Ông khách thấy các sơ vui vẻ giúp người này tắm rửa, diệt trừ chí rận với thái độ ân cần đầy cảm thông. Sau đó, ông đến gặp Mẹ Têrêsa và nói: “Thưa mẹ, khi đến đây con vẫn đang có ác cảm và thù ghét đối với hội thánh công giáo. Con nghĩ rằng các linh mục và nữ tu chỉ là bọn người đạo đức giả! Nhưng giờ đây, con đã loại bỏ tất cả những hiểu lầm và thành kiến lâu nay. Vì tại tu viện này, con đã chứng kiến tình yêu Chúa được diễn tả cụ thể qua hành động và thái độ của các sơ, khi các sơ săn sóc cho người bệnh sắp chết kia. Bây giờ thì con đã xác tín “Thiên Chúa là tình yêu”. Vì nếu không có Thiên Chúa trong tâm hồn, thì chắc các sơ đã không thể đủ nghị lực để quên mình xả thân phục vụ cách vô vụ lợi những người bất hạnh như vậy .


 MẾN CHÚA ĐI ĐÔI VỚI YÊU NGƯỜI: Trong bài Tin mừng
 CN /TN 30 hôm nay, Đức Giê-su đã trả lời cho một kinh sư thuộc nhóm Pha-ri-sêu biết hai giới răn quan trọng nhất là: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là giới răn lớn nhất và điều răn đứng đầu.

 Còn điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy là: Người phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các sách Ngôn Sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,37-40).
 
 MẾN CHÚA: Một số người chỉ giữ những việc đạo như mười điều răn, đi lễ Chúa Nhật, xưng tội rước lễ... vì sợ bị mắc tội nặng phải sa hỏa ngục. Còn những tội nhẹ như: chửi nhau, tục tĩu, ăn cắp vặt, gian dối, tham lam... thì họ không quan tâm chừa cải. 
 Đó là những người “chỉ mến Chúa ngoài môi miệng, còn lòng họ thì ở xa Chúa” mà người Pha-ri-sêu trong Tin mừng hôm nay là một bằng chứng.

 Một số người khác cố gắng sống đạo nghĩa là giữ các giới răn để sau này được lên thiên đàng. Nhưng vì tình mến Chúa không nhiều, nên đến khi buộc phải hy sinh bản thân thì họ lại làm như các môn đệ trong cuộc khổ nạn của Chúa:

 Kẻ thì “hèn nhát chối không biết Thầy là ai” (Si-mon Phê-rô)
 Kẻ thì “bỏ Thầy để chạy thoát thân” (các môn đệ khác)
 Thậm chí có kẻ còn “liên kết với các đầu mục Do thái để bán nộp Thầy” (Giu-đa Ít-ca-ri-ốt)...

 “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).


 Chúng ta cần xin ơn Thánh Thần giúp chúng ta đạt tới lòng mến Chúa hết lòng .

 YÊU NGƯỜI:Yêu người như yêu bản thân mình: Đây là tình yêu nhân bản vị tha . Chúa dạy: “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em. Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì hãy cho. Ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại. Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy” (Lc 6,27-31). 


Mỗi tín hữu chúng ta cần phải xin Chúa giúp thực tập đức ái theo tinh thần lời Chúa dạy



 Một tình yêu quên mình phục vụ: Vì yêu thương, Thiên Chúa đã dựng nên loài người, thừa nhận loài người làm con cái để chia sẻ hạnh phúc với Người. Nhưng loài người đã đáp lại tình yêu ấy bằng thái độ tệ bạc  Nhưng Thiên Chúa không bỏ mặc loài người, đã đề ra chương trình cứu độ: 

 Đức Giê-su Ki-tô Con Thiên Chúa sẽ xuống thế làm người, vâng lời Chúa Cha, bằng lòng chịu chết thập giá để đền tội thay cho loài người, và sống lại để mở ra một con đường cứu độ, hầu ai tin Chúa Giê-su và đi con đường mến Chúa yêu người của Người sẽ được hưởng ơn cứu độ (x Pl 2,5-11).

- Một tình yêu tha thứ vô điều kiện. Chúa muốn chúng ta yêu thương hết mọi người, những người nghèo hèn, bất hạnh, bệnh tật và bị bỏ rơi
. Chỉ tình thương như thế mới bền vững và mang lại hạnh phúc đời đời cho chúng ta.

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Ngày nay Chúa cũng muốn chúng con mở rộng vòng tay đến với hết mọi người. Chúng con chỉ có thể “nối vòng tay lớn” để hợp tác xây dựng một thế giới mới ngày một công bình, yêu thương và an bình thịnh vượng hơn.Amen.




Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN .NĂM A -MẾN CHÚA VÀ YÊU NGƯỜI.






                             Mến Chúa và yêu người. 

Nhóm Sađốc chất vấn Chúa về sự sống lại đã bị Chúa bẻ gẫy không dám hỏi nữa. Nghe vậy bọn biệt phái muốn tấn công lại, cho nên một nhà thông luật đã đưa ra vấn đề để thử Chúa: Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất. Luật Do Thái gồm cả thảy 613 điều được chia thành 248 điều phải làm và 365 điều phải tránh. Đồng thời có những điều nặng và những điều nhẹ. Phạm những điều nhẹ thì chịu phạt đền tội, còn phạm những điều nặng, có thể bị án tử hình. Các nhà thông luật thường tranh luận với nhau xem điều luật nào quan trọng nhất.

Trước vấn nạn được đưa ra, Chúa Giêsu đã trả lời một cách rõ ràng và xác đáng: Ngươi hãy kính mến Chúa hết lòng. Đó là giới răn quan trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng quan trọng như giới răn thứ nhất, đó là hãy yêu thương anh em như chính mình. Chúa đem điều luật yêu người đặt ngang hàng với luật mến Chúa, đó là điểm đặc sắc trong những lời giảng của Người.

Lời xác quyết của Chúa thật minh bạch. Đi theo chiều hướng ấy, các tông đồ cũng nhấn mạnh, chẳng hạn thánh Gioan đã viết: Thiên Chúa là tình yêu. Ai ở trong tình yêu là ở trong Thiên Chúa. Rồi thánh Phaolô cũng căn dặn: Anh em hãy mặc lấy đức ái, đó là giềng mối của sự trọn lành
. Như vậy mến Chúa hết lòng và yêu anh em như chính mình, đó là đỉnh cao của sự thánh thiện và đó cũng là việc chúng ta cần thực hiện trong cuộc sống trần gian.


Vì thế, sự thánh thiện cốt tại lòng mến Chúa và yêu người. Bất kỳ những gì, dù nhỏ bé, kín đáo, tầm thường đến đâu, song được làm vì lòng mến Chúa và yêu người, thì nó sẽ trở nên thánh thiện cho chúng ta. Bởi vậy, thánh Augustinô đã nói: hãy yêu mến rồi làm gì cũng được.

Rất tiếc có những người đã uổng công xây căn nhà đạo đức thánh thiện của mình không đúng cách vì không có được lòng mến Chúa yêu người làm nền tảng, cho nên không bao lâu chiếc mặt nạ đạo đức bị rớt xuống, và họ chỉ là những kẻ giả hình, gian dối. 

Thế nhưng, trong thực tế hằng ngày, có lẽ chúng ta thường quen tách rời Thiên Chúa ra khỏi yêu người; coi như hai điều luật hoàn toàn không liên hệ gì với nhau.
 Do đó, chúng ta có thái độ mâu thuẫn rõ rệt: làm việc gọi là đạo đức để yêu mến Chúa, nhưng đồng thời cũng làm những việc ám hại tha nhân để trục lợi hoặc ít ra cũng dửng dưng với những nhu cầu cấp bách của người khác.
 Chúng ta chỉ chú trọng đến việc gọi là mến Chúa mà không tha thiết gì đến việc thương người. Có khi chỉ mến Chúa yêu người vì có thể trục lợi được, chứ không phải vì đó là ý Chúa muốn, là bổn phận của con cái Chúa và vì là anh em với nhau.

 Mến Chúa bằng cách yêu tha nhân, yêu tha nhân là cách thế tỏ lòng yêu mến Chúa, đó là đều chúng ta phải quan tâm và áp dụng thực hành.Tuy nhiên, chúng ta đừng quên: "Tình yêu tha nhân phải được nền tảng trên tình yêu Thiên Chúa. Khi trái tim tôi thuộc trọn về Thiên Chúa thì ngay lúc ấy nó cũng thuộc trọn về tha nhân. Người ta chỉ có khả năng yêu tha nhân đến vô cùng khi được tình yêu Chúa chiếm hữu" (Rm 5,5). 

Trong Chúa, tôi bắt gặp tha nhân là anh em tôi. Trong Chúa, tôi cảm nhận được phẩm giá đích thực và trọn vẹn của một con người, dù đó là một người bệnh tật hay già yếu, một phạm nhân, một người mất trí, một thai nhi còn trong bụng mẹ, một thiếu nữ lầm lỡ, một người mắc bệnh Sida... Trong Chúa, tôi yêu mến họ và nhận ra chính khuôn mặt của Chúa Giêsu đang đau khổ, đói khát, trần trụi, yếu đau, ở tù, cô thế cô thân... (x.Mt 25,35-36).


Tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa thì đưa tôi về với anh em. Tình yêu đối với anh em lại đòi tôi phải trở về với Thiên Chúa, nguồn mạch tình yêu, để múc lấy ở đó sức mạnh hầu tiếp tục trao hiến. Đó là nhịp sống bình thường của người Kitô hữu: cứ đong đưa giữa hai tình yêu. Chính nhờ sự đong đưa này mà trái tim tôi được dần dần mở ra và trở nên giống như trái tim Chúa Giêsu trên Thập giá.

Chúng ta chỉ là Kitô hữu đích thực khi sống bằng chính sức sống và tình yêu của Đấng đã sống và chết vì yêu thương ta. Chừng nào thế giới của người lớn chúng ta biết sống quảng đại yêu thương, biết giải quyết những tranh chấp không thể tránh được bằng đường lối ôn hòa, thông cảm và tha thứ, thì hòa bình, mới triển nở được trong bầu khí hồn nhiên tươi sáng, hứa hẹn một tương lai huy hoàng cho gia đình, xã hội và thế giới.


 Chúa không kể thời gian lâu mau. Chúa không xét việc làm to nhỏ. Chúa không coi việc làm vất vả hay nhẹ nhàng, nhưng Chúa đo mọi hành vi chúng ta làm bằng tình yêu, Người dùng mức độ tình yêu để đánh giá và ấn định công trạng đời sống chúng ta. Bởi đó, yêu nhiều là làm nhiều, và làm nên công nghiệp của mình trước mặt Thiên Chúa.
             
         Chào bình an và thiện hảo trong Đức Giêsu Kitô

Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014

ĐỨC KITÔ : ĐẤNG LÀM CHO TA VẤP NGÃ



Vào thời Tân ước nếu không có sự xuất hiện của Chúa Giêsu có lẽ cuộc sống dân Do Thái sẽ " bình an phẳng lặng " Và qua sự kiện Giêsu thành Nazareth làm cho dân tộc họ luôn luôn xáo trộn . 

Đối với mỗi một người Ki-tô hữu trong cuộc đời chúng ta cũng thế, nếu không có Đức Ki-tô, có lẽ chúng ta sẽ ít phải đặt vấn đề về cuộc sống của mình, ít phải bị trăn trở trong tận cùng thẳm sâu tâm hồn của chúng ta hơn. Không có Đức Ki-tô, xem ra cuộc đời chúng ta “dễ thở” hơn !

Chính Đức Ki-tô củng không chịu để chúng ta sống yên ổn : đó là một sự thật và sự thật này đã được chính Ngài xác nhận :

                 Và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi 
                                           (Lc 7,23)
 Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo                            Kẻ thù của chính mình là người nhà                                                                     (Mt 10,34-36).

 Sự thật này cũng là một điều dễ hiểu, bởi lẽ Đức Ki-tô là “Ánh Sáng Thế Gian ”, và bởi có Ánh Sáng cho nên người ta sẽ phải nhận ra Bóng Tối, bởi có Ngày cho nên người ta mới nhận ra đâu là Đêm ! Đức Ki-tô là sự Thiện Tuyệt Đối, và bởi có sự Thiện Tuyệt Đối cho nên người ta mới phải nhận ra sự Ác Tuyệt Đối. 

Bởi có Đức Ki-tô, một lằn ranh chính xác đã được vạch ra để phân chia cái Thiện và cái Ác . Kể từ đó, mọi sự đã được phân biệt rành rẽ  không còn khoan nhượng được nữa ! 

Trong tâm hồn mỗi người, đặc biệt là những người Ki-tô hữu, Đức Ki-tô đã vạch ra một lằn ranh biên giới như thế. Và kể từ khi có lằn ranh phân chia đó, hai sức mạnh Thiện, Ác, luôn luôn đối kháng trấn áp nhau một cách dữ dội trong tâm hồn người đó. 

Và thử hỏi ai có thể an nhiên tự tại khi đang mang trong mình một cuộc chiến khốc liệt đến thế. Rõ ràng là người ta sẽ phải “mất ăn, mất ngủ” sau khi gặp được Đức Ki-tô !

Nếu không gặp Đức Ki-tô thì cuộc đời người Kitô hữu sẽ ra sao ?

Dĩ nhiên là cuộc sống  sẽ “thoải mái” hơn vì không còn bị lấn cấn, bị xâu xé một cách quyết liệt bởi cái Thiện và cái Ác kia nữa. 

Không có Đức Ki-tô, mọi sự sẽ trở nên tương đối. Lúc đó chỉ còn có những điều “nên làm” và những điều “không nên làm”, chứ không có những điều “phải làm” và những điều “không được làm” nữa. Và chữ “nên” là một chữ thường chỉ có tính cách gợi ý: tôi muốn thì tôi làm, tôi không muốn thì thôi. Một cuộc sống như thế dĩ nhiên là “dễ thở” hơn nhiều !

Tuy nhiên, với cuộc sống “dễ thở” như thế thì thử hỏi cuộc đời người Kitô hữu sẽ đi về đâu ?

Theo “lô-gích” mà nói thì một cuộc sống như thế con người ta sẽ chẳng  đi về đâu cả ! Bởi mọi sự đều tương đối cho nên  sẽ chẳng có điểm ngừng, cũng chẳng có đích đến , sẽ đi vòng vo luẩn quẩn mãi một cách “thoải mái dễ thở”, nhưng là “thoải mái dễ thở” một cách hoài công !

Có Đức Ki-tô, rõ ràng là tôi phải đi theo hình xoáy trôn ốc mỗi lúc một hẹp dần và lên cao hơn, mà Đức Ki-tô là điểm đến cuối cùng : nếu đi theo chiều thuận, tôi sẽ tiến đến gần Ngài ; còn nếu đi theo chiều nghịch, tôi sẽ rời xa Ngài.

 Một cuộc sống như thế dĩ nhiên sẽ không phẳng lặng yên ổn, bởi lẽ hoặc tôi sẽ “được”, hoặc tôi sẽ “mất” một cách rõ ràng.

 Đứng trước tình huống căng thẳng này tất nhiên tôi sẽ phải “khó thở”, và nếu không gượng được tất nhiên tôi sẽ phải “ngã quỵ” xuống. 

Tuy nhiên, nguồn an ủi và niềm hy vọng của tôi chính là Đức Giê-su Ki-tô, “Đấng nâng những người vấp ngã chỗi dậy” ./.   


YÊU THƯƠNG ĐỜI - YÊU THƯƠNG NGƯỜI



Cuộc sống con người trong thế giới nầy trải qua thời gian biết bao nhiêu thăng trầm trôi nổi, nào là ngọt ngào cay đắng, nào là thương ghét, vui buồn... Và tôi khám phá ra rằng trong mỗi con người có thứ tình yêu tự nhiên, nhưng bên cạnh đó, cũng có thứ tình yêu phải cố gắng. 

Cả hai thứ tình yêu này đều có giá trị riêng và đều đáng quí. Người biết yêu là người không từ chối, hay nói đúng hơn, không để lòng mình hạn hẹp ở trong một thứ tình yêu nào cả.Nhưng : có một thứ tình yêu mà trên thế giới nầy con người không bao giờ có được mà trao ban cho nhau ,mà chỉ có một Đấng tối cao trao ban cho con Người ,một tình yêu không so đo ,vụ lợi ,không tính toán , một tình yêu trao ban hết lòng cho tha nhân.Thậm chí còn hiến thân mình làm giá máu cứu chuộc cho nhân loại ,và tình yêu ấy như trăng như sao biết lấy chi báo đền cho. TÌNH YÊU THIÊN CHÚA .

Yêu cha, yêu mẹ, là một tình yêu tự nhiên điều ấy là đương nhiên. Nhưng nếu phân tích ra, thì tình yêu ấy đương nhiên, vì trước hết  Thiên Chúa đã đặt một mối dây thân tình ruột thịt giữa cha mẹ và con cái. Sợi dây ấy vô hình nhưng ràng buộc cha mẹ, con cái một cách bền chặt, sâu đậm trong ân sủng gia đình Thánh

Rồi khi có người tình, tôi yêu người tình say đắm, yêu khi người ấy dễ thương với tôi, và cả khi người ấy dễ ghét. Tôi như khám phá ra tôi, tìm được chính bản thể tôi trong người ấy.

 Lắm khi tôi lạ lùng tự hỏi, tại sao mình yêu người ấy đến như thế, dù người ấy không gần gũi tôi như cha mẹ tôi, không có một thời gian sống cạnh nhau lâu dài để mà biểu lộ lòng hi sinh cao độ như cha mẹ tôi đã biểu lộ, cũng chưa từng chia sẻ với tôi một cách tận cùng những khó khăn, cực nhọc trong cuộc sống. Thế mà tôi vẫn cứ yêu, yêu đắm say, yêu cuồng nhiệt. 
Và trong tình yêu nam nữ, có ba loại tình. 
Thứ nhất là tình ''nếu''. Tôi yêu người ấy, nếu người ấy thế này hay thế khác. Tình "nếu'' chỉ là thứ bánh vẽ, thực ra thì tôi không yêu, bởi vì người ấy có như thế đâu ? 
Thứ hai là tình ''vì''. Tôi yêu người ấy, vì người ấy thế nọ, thế kia. Tình ''vì'' là thứ tình có điều kiện, và thường là vụ lợi. Nếu người ấy không còn những cái mà ''vì '' nó, tôi yêu người ấy, thì có nghĩa là khi người ấy mất những cái đó, tôi không còn yêu nữa! 
Thứ ba là tình ''mặc dầu'', tôi yêu người ấy, ''mặc dầu'' người ấy sẽ như thế nào đi nữa. Tình ''mặc dầu'' là tình vô điều kiện, tình quảng đại và vững bền. Tôi nghĩ tình của tôi dành cho người tình là thứ tình "mặc dầu" ấy.Và được hợp pháp hóa qua Bí tích hôn nhân



Tôi yêu vợ con, với thứ tình vừa nồng nàn , vừa êm đềm gắn bó của tình nghĩa. Một thứ bổn phận, trách nhiệm ràng buộc tôi với vợ con. Tôi mang bổn phận, trách nhiệm ấy như mang một thứ ''ách êm ái,gánh nhẹ nhàng'' khiến cho cuộc sống của tôi có ý nghĩa. 

Tôi là một người cần thiết, là chỗ tựa nương cho người khác, mà những ''người khác'' ấy lại chính là những người tôi rất mực yêu thương, trân trọng. Điều ấy làm cho tôi vui và hãnh diện. Tình tôi dành cho vợ con đúng là thứ tình ''mặc dầu '' trọn vẹn nhất.

Và tôi yêu thương bạn bè. Tình bạn là một tặng phẩm quí giá Thiên Chúa dành cho tôi. Tôi có nhiều bạn và rất quí bạn. Tôi cũng thích chiều bạn và vui khi thấy bạn vui. Chiều bạn và không đòi hỏi điều gì quá đáng nơi bạn, đó là nguyên tắc giúp tôi giữ được tình bạn lâu dài.


Và chung quanh tôi còn biết bao nhiêu người đáng yêu đáng mến, những người tôi cảm thấy sung sướng, hạnh phúc khi được gần họ. Những người mà nếu được gặp họ, tôi thấy ngày hôm ấy vui hơn, dễ thương hơn, tươi đẹp hơn.

Nếu thực sự tình yêu là cái gì tự nhiên, không cần rán sức cố gắng gì cả, thì ngần đó người đã đủ cho tôi yêu thương, quí mến. Nhưng bên cạnh những người ấy, còn có những điều và những người, mà theo sự tự nhiên, không những tôi không yêu, mà còn phải ghét.

Cái đáng ghét là theo lẽ tự nhiên , chính là cuộc đời. Đời sống đúng là nỗi ưu phiền cay đắng cho con người.

Khi con người hi vọng, cuộc đời làm cho thất vọng.
Khi con người ước mơ hạnh phúc, cuộc đời lại cho nỗi đớn đau.
Khi con người muốn sống bình an, cuộc đời đẩy đưa vào sóng gió. 
Khi con người mong được nếm hương vị ngọt ngào trong cuộc sống, cuộc đời dâng tặng toàn những đắng cay chua chát. 
Khi con người muốn được cư xử bình đẳng, cuộc đời lại đối xử   một cách bất công. 
Khi con người cần được thông cảm, cuộc đời lại khắt khe lên án 
Khi con người cần được ủi an nâng đỡ, cuộc đời cho sự lạnh lùng và vùi dập. 
Khi con người thích sống chân thật, cuộc đời lại đầy những giả trá điêu ngoa. 
Khi con người muốn sống yêu thương, cuộc đời cho hận thù.

 Dĩ nhiên, phải công bình mà nói, nhiều khi cuộc đời cũng cho con người nhiều niềm vui và hạnh phúc, nhưng những buồn phiền bất như ý bao giờ cũng nặng hơn. 

Chẳng thế, mà bao giờ người ta cũng nói về cuộc đời, thế gian, trần gian...đều kèm theo một tiếng thở dài.

Cuộc đời là những hoàn cảnh sống do chính con người tạo nên. Và bởi vì có nhiều người không tốt nên có nhiều cảnh đời đáng buồn. Khi nói rằng
''cố gắng yêu thương đời'' thì cũng có nghĩa là "cố gắng yêu thương người'

Người ta được sinh ra đời, chia sẻ với nhau kiếp người. Nghe đến chữ
''kiếp người", ai cũng thấy cái ''kiếp'' ấy đầy những đau buồn, đó là một cái ''thấy'' vừa do kinh nghiệm vừa do trực giác

Muốn cho cái kiếp ấy đỡ đau buồn, chỉ có một cách là có nhiều người sống đẹp, cư xử tốt với nhau với những người khác. Mà điều trước tiên ta đừng chờ mong người khác sống đẹp trước, cư xử tốt trước.
 Chính ta là người phải thực hiện điều ấy trước người khác. Ở một xã hội có nhiều người đám đi bước trước trong cách sống đẹp, dám có can đảm chấp nhận thiệt thòi mà không đôi co hơn thiệt, xã hội ấy sẽ đẹp hơn, dễ thương hơn, hay ít nhất là cũng dễ thở hơn.

Sống đẹp, cư xử tốt là cách nói khác của chữ ''yêu thương''. Trong khi ta yêu thương người, mà người chưa theo kịp ta để cũng sống yêu thương như ta, thì một là ta bỏ cuộc, hai là ta phải cố gắng. Chuyện rất đơn giản.

Thường người ta cảm thấy người khác khó thương vì một vấn đề nào gì đó khó tha thứ được, khi cái khó thương của họ ảnh hưởng trực tiếp trên ta.


 Một người làm điều xấu cho một người khác, ta có thể thông cảm được, hay ít nhất là chê trách rồi cũng bỏ qua được.

Nhưng khi người ấy làm hại chính ta, ta không thể bỏ qua, không thể chấp nhận được hành động ấy. Đó là phản ứng chung của con người, và điều ấy biểu lộ lòng thiếu quảng đại. 
Người ''cố gắng yêu thương đời'' là người tập sống quảng đại, tập sống vượt lên trên cái bản chất bình thường của một con người.
''Cố gắng yêu thương đời'' tức là đang tập sống với thứ tình yêu ''mặc dầu'': mặc dầu đời không yêu ta, mặc dầu đời bao gian dối, mặc dầu đời cay đắng như vôi... thì ta vẫn cứ yêu thương đời như thường!
 Sống như thế, yêu như thế tức là chọn thái độ can đảm, không bỏ cuộc.
Yêu thương người đời cũng chính là yêu thương chính mình. Bởi vì mình cũng là một sinh vật đầy những khuyết điểm như những con người khác. 

Khi ta biết thông cảm với người và yêu thương người, ta cũng dễ thông cảm với chính ta và yêu thương ta. 
Thông cảm và yêu thương một cách ý thức, chứ không phải là dễ dàng bỏ qua tất cả những cái xấu xa của mình và tìm tư lợi cho mình chỉ vì tính vị kỉ.một cái TÔI to lớn.

Như thế thì cố gắng yêu thương đời, yêu thương người là điều nên làm và tình yêu ấy cũng có giá trị lắm , tình yêu tự nhiên giống như một bông hoa, tỏa hương thơm nhẹ nhàng quyến rũ con người.


                                                   
Trong Tin Mừng Mát thêu (5,46-47) Chúa Giê su nói cho con người biết về ý nghĩa và giá trị của lòng yêu thương:

''Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em .Đấng ngự trên trời.vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng cho kẻ xấu củng như người tốt và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình , thì anh em  nào có công chi .Nếu anh em  chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu.Ngay cả người ngoại cũng chẵng làm như thế sao "


Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

TÂN CHÂN PHƯỚC GIÁO HOÀNG PHAOLÔ .VI NGÀY TÔN PHONG 19/10/2014



Ngày 19-10-2014, ngày bế mạc Công nghị Giám mục về Gia đình, Giáo hội Công giáo tôn phong Bậc đáng kính GH Phaolô VI lên bậc Chân phước (trước đây gọi là Á thánh). Một niềm vui lớn cho những người Công giáo. Như vậy, trong năm 2014, chúng ta có 3 vị thánh giáo hoàng: Gioan XXIII (sinh 28-11-1881, triều đại giáo hoàng từ 28-10-1958 tới 3-6-1963), Gioan Phaolô II (sinh 18-5-1920, triều đại giáo hoàng từ 16-10-1978 tới 2-4-2005), và Phaolô VI (sinh 26-9-1897, triều đại giáo hoàng từ 21-6-1963 tới 6-8-1978). Thật hạnh phúc khi chúng ta được sống trong thời của ba vị thánh giáo hoàng liên tiếp!

Khi ĐGH Phaolô VI đương nhiệm giáo hoàng,là người đầu tiên không dùng mũ ba tầng và không dùng kiệu trong ngày đăng quang. Chắc hẳn đó là cách canh tân cần thiết.

Chân phước Phaolô VI sinh ngày 26-9-1897 tại Concesio (Lombardy), trong một gia đình thượng lưu, với tên “cúng cơm” khá dài là Giovanni Battista Enrico Antonio Maria Montini. Cha ngài là luật sư nhưng lại làm biên tập viên báo chí và là người thúc đẩy hoạt động xã hội. Cậu Giovanni là người yếu đuối nhưng thông minh, từ nhỏ cậu đã được học với các linh mục Dòng Tên ở gần nhà tại Brescia. Ngay cả sau khi gia nhập chủng viện (1916), cậu vẫn được sống tại gia đình vì lý do sức khỏe.

Ngài thụ phong linh mục năm 1920 (mới 23 tuổi), sau đó ngài được gởi tới Rôma học tại ĐH Grêgôriô và ĐH Rôma, nhưng năm 1922 ngài được chuyển tới Accademia dei Nobili Ecclesiastici (Viện Giáo Sĩ) để học ngành Ngoại giao và vẫn học Giáo luật tại ĐH Grêgôriô. Năm 1923, ngài được gởi tới Warsaw làm khâm sứ nhưng rồi lại được gọi về Rôma (1924) vì mùa Đông Ba Lan lạnh quá khiến sức khỏe của ngài bị ảnh hưởng, rồi ngài được bổ nhiệm làm Quốc vụ khanh Tòa Thánh, và ngài giữ chức vụ này từ 1922 tới 1954. Ngoài việc ngài dạy học tại Accademia dei Nobili Ecclesiastici, ngài còn được bổ nhiệm làm tuyên úy cho FUCI (Federation of Italian Catholic University Students – Liên minh Sinh viên Đại học Công giáo Ý), do đó ngài ảnh hưởng mạnh tới các mối quan hệ của ngài với những người sáng lập Đảng Dân chủ Kitô giáo (Christian Democratic Party) thời hậu chiến.

Khi được bầu làm giáo hoàng, ĐHY Montini chọn Tông hiệu Phaolô VI để chứng tỏ canh tân sứ vụ thế giới là loan truyền sứ điệp của Đức Kitô. Ngài tái mở Công đồng Vatican II, lý do là Công đồng phải tạm ngưng vì ĐGH Gioan XXIII qua đời. Sau khi Công đồng bế mạc, ĐGH Phaolô VI đảm trách việc giải thích và thực hiện sự ủy thác của Công đồng, thường bước đi trong đường hẹp giữa các hy vọng đối lập của nhiều phe nhóm trong Giáo hội Công giáo. Tầm quan trọng và chiều sâu của việc cải cách ảnh hưởng mọi lĩnh vực trong đời sống Giáo hội trong triều đại giáo hoàng của ngài đã phóng đại sự cải cách tương tự của người tiền nhiệm và kế vị.

Và rồi ĐHY Montini đắc cử giáo hoàng ngày 21-6-1963, với Tông hiệu Phaolô VI – ngày xưa gọi là Phaolô đệ lục, kế vị ĐGH Gioan XXIII. Triều đại Giáo hoàng của ĐGH Phaolô VI kéo dài tới ngày 6-8-1978. Thánh GH Gioan XXIII là người khai mạc Công đồng Vatican II, Chân phước GH Phaolô VI là người tiếp tục và bế mạc Công đồng này. Ngài mong muốn cải thiện mối quan hệ đại kết với Chính thống giáo và Tin lành, và đã có kết quả trong nhiều cuộc gặp gỡ lịch sử và thỏa hiệp.
Chân phước Phaolô VI là người sùng kính Đức Mẹ, thường nói tới Đức Mẹ tại các buổi hội nghị và hội thảo, thường viếng các Đền Đức Mẹ và ban hành ba tông thư về Đức Mẹ. Theo bước vị tiền nhiệm ngài là TGM Ambrose của TGP Milan, ngài tôn vinh Đức Mẹ là Mẹ Giáo Hội tại Công đồng Vatican II.

ĐGH Phaolô VI đã tìm cách đối thoại với thế giới, với người không là Kitô giáo, với các tôn giáo khác và người vô thần, không loại trừ ai. Ngài tự nhân mình là người tôi tớ khiêm nhường vì nhân loại đau khổ và đòi hỏi sự thay đổi nhiều ở người giàu tại Hoa Kỳ và Âu châu để hỗ trợ người nghèo trong thế giới thứ ba. Ngài đề cập vấn đề về hạn chế sinh sản (x. Tông thư Humanae Vitae – Sự sống Con người) và các vấn đề khác đã gây tranh luận tại Tây Âu và Bắc Mỹ, nhưng lại được hoan hô ở Đông phương, Nam Âu và Mỹ châu Latin.

Triều đại giáo hoàng của ngài ở trong giai đoạn thay đổi thế giới, sinh viên nổi dậy, chiến tranh Việt Nam và các cuộc nổi dậy khác. Năm 1937, ngài được bổ nhiệm thay thế về thường vụ dưới quyền ĐHY Quốc vụ khanh Pacelli, và ngài cùng ĐHY Pacelli tới Budapest (1938) tham dự Hội nghị Thánh Thể Quốc tế (International Eucharistic Congress). Khi ĐHY Pacelli được bầu làm giáo hoàng năm 1939, với Tông hiệu Piô XII, ĐHY Montini được tiếp tục giữ chức vụ dưới quyền tân Quốc vụ khanh là ĐHY Luigi Maglione. Khi ĐHY Luigi Maglione qua đời năm 1944, ĐHY Montini nghỉ chức vụ cũ. Trong Thế chiến II, ĐHY Montini đảm trách việc tổ chức công việc cứu tế bao quát và chăm sóc người tị nạn chính trị.

Trong mật nghị năm 1952, ĐGH Piô XII tuyên bố ngài muốn đưa ĐGM Montini và ĐGM Domenico Tardini vào Hồng y đoàn nhưng cả hai vị đều xin miễn. Nhưng ĐGH Piô XII đã phong cho hai vị tước Đại diện Quốc vụ khanh (Prosecretary of State). Năm sau, ĐGM Montini được bổ nhiệm làm TGM Milan nhưng vẫn không có tước hồng y. Ngài nhận nhiệm sở mới ngày 5-1-1955, và mau mắn được tiếng là “giám mục của giới lao động”. Ngài đổi mới cả giáo phận, rao giảng các sứ điệp Phúc Âm về xã hội, cố gắng giành lại giới lao động, thúc đẩy nền giáo dục Công giáo ở mọi cấp, và ủng hộ báo chí Công giáo.

Lúc này, ảnh hưởng của ngài rất mạnh đến nỗi được thế giới chú ý. Tại mật viện năm 1958, tên ngài thường được nhắc tới, và tại mật nghị đầu tiên bầu được ĐGH Gioan XXIII hồ tháng 12-1958, ngài là một trong 23 hồng y có thể đắc cử giáo hoàng, mà tên ngài luôn đứng đầu danh sách. Ngài đáp lại lời kêu gọi mở Công đồng ngay lập tức và trước khi nhóm họp, ngài đã được chọn làm cố vấn về quy chế hội nghị. Ngài được bổ nhiệm làm Ủy viên Chuẩn bị Chính yếu (Central Preparatory Commission) cho Vatican II và là Ủy viên Tổ chức Kỹ thuật (Technical-Organizational Commission).

Khi được bầu làm Giáo hoàng, trong sứ điệp đầu tiên ngài gởi cho thế giới, ĐGH Phaolô VI tự nhận mình là người tiếp tục công việc mà ĐGH Gioan XXIII đã khởi đầu. Trong suốt triều đại giáo hoàng của ngài, sự căng thẳng giữa tính ưu việt giáo hoàng và tính cộng đoàn của chức giám mục là nguyên nhân gây xung khắc. Ngày 14-9-1965, ngài tuyên bố tiệu tập Công nghị Giám mục mà các Giáo phụ Công đồng đã kêu gọi, nhưng một số vấn đề có vẻ thích hợp để thảo luận tại Công nghị được giữ bí mật. Luật độc thân đã bị bỏ vì tranh luận tại phiên họp thứ tư của Công đồng Vatican II, nhưng lại là chủ đề của Tông thư công bố ngày 24-6-1967; hạn chế sinh sản được giải quyết trong Tông thư Humanae Vitae (Sự sống Con người, 24-7-1968), và cũng là Tông thư cuối cùng của ngài. Các cuộc tranh luận về hai vấn đề này có xu hướng làm lu mờ những năm trước trong triều đại giáo hoàng của ngài.

ĐGH Phaolô VI chịu sức ép về sự so sánh với vị tiền nhiệm là ĐGH Gioan XXIII, người được mệnh danh là “ông già nhân hậu”. Tuy nhiên, những người biết rõ về ngài nhất đều mô tả ngài là người thông minh, sống nội tâm, khiêm nhường, kín đáo và hòa nhã, một người “vô cùng nhã nhặn”. Các tư tưởng đáng lưu ý của ngài có thể thấy trong các lời phát biểu, các lá thư và các lời tuyên bố của ngài. Sự thành công của Công đồng Vatican II đã ghi dấu ấn lịch sử của Giáo hội Công giáo, nhưng lịch sử cũng sẽ ghi nhớ công cuộc cải cách triệt để của ngài trong giáo triều Rôma, lời ngài phát biểu được đón nhận nồng nhiệt tại Liên Hiệp Quốc năm 1965, và hai Tông thư của ngài: Tông thư Populorum Progressio(Phát triển Dân số, 26-3-1967), và Tông thư Octogesima Adveniens (Bát thập Chu niên, 14-5-1971, kỷ niệm 80 năm công bố tông thư Rerum Novarum [Tân Sự] của ĐGH Leo XIII).

Tông thư thứ nhất cho thấy nhận thức về nhiều vấn đề chỉ mới được làm sáng tỏ, và Tông thư Evangelii Nuntiandi (Loan báo Tin Mừng trong Thế giới, 8-12-1975) – tuyên bố quan trọng cuối cùng của ngài đã “chạm” đến vấn đề chính của khái niệm về sự giải thoát và sự cứu độ.

Chân phước Phaolô VI được mệnh danh là “Giáo hoàng Trầm tư”, và ngài còn được mệnh danh là “Giáo hoàng Hành hương” vì ngài đã đi tới các châu lục và đi nhiều nhất so với các giáo hoàng tiền nhiệm, đặc biệt là tới Na-da-rét ngày 5-1-1964. Ngài qua đời ngày 6-8-1978, lễ Hiển Dung (Chúa Giêsu biến hình). Ngài muốn đám tang ngài tổ chức đơn giản:KHÔNG nhà táng (catafalque) và KHÔNG bia tưởng niệm trên mộ ngài. Với Tông thưHumanae Vitae (Sự sống Con người), ngài được coi là một tiên tri (ngôn sứ). ĐGH Phaolô Vl đã được ĐGH Bênêđictô XVI tôn phong là Bậc Đáng Kính vào ngày 20-12-2012.
Ngày 14-9-1965, ngài thiết lập Công nghị Giám mục và Ban Cố vấn Giáo hoàng. Trong triều đại giáo hoàng của ngài đã có vài công nghị được tổ chức để thảo luận về các vấn đề đặc biệt, như Công nghị Giám mục về Phúc Âm hóa trong thế giới hiện đại, khai mạc ngày 9-9-1974.

Lạy Chân phước Giáo hoàng Phaolô VI, xin nguyện giúp cầu thay cho chúng con!Amen.


Thứ Năm, 16 tháng 10, 2014

GIÊSU .NGƯỜI GIÁO DÂN BẤT HẠNH




Trong cộng đoàn Do Thái của Người, Ðức Giêsu chỉ là một giáo dân thuần túy. Người không thuộc về giai cấp Tư Tế xét về bất cứ phương diện nào, và giai cấp Tư Tế nằm trong tay một số gia tộc với những chức vụ đăc biệt trong Ðền Thờ. 


Ðức Giêsu cũng không tham gia bất cứ một nhóm tôn giáo đặc biệt nào đương thời, như các tu sĩ Numran là những người rút lui khỏi đời sống thế tục để sống nhiệm nhặt trong cộng đoàn.
Ðức Giêsu đã lớn lên như chàng trai nhà quê mộc mạc trong một xóm hẻo lánh ở miền quê Galilê. Sau đó, Người là một thầy giảng lang thang, công bố sứ điệp của mình mà không được phê chuẩn hay nâng đỡ nào có tính cách cơ chế, mà chỉ dựa vào sức mạnh của chính sứ mạng ngôn sứ của mình. Nguồn nâng đỡ duy nhất của Người là Chúa Cha trên trời.
Là một giáo dân, Chúa Giêsu sống gần gũi dân chúng. Người dự các lễ hội của họ, gắn bó với người nghèo. Nhưng cũng hoạt động giữa các tầng lớp thượng lưu và chế nhạo cách xử sự giữa họ với nhau khi dự tiệc tùng (Lc 14,7-14).

 Người xót xa với những thống khổ của đồng bào, sự áp bức của người La Mã, hệ thống thuế má khắc nghiệt, sự bất lực của con người trước những hoạn nạn của gia đình như khi một bà góa cô độc nọ phải mất đứa con trai duy nhất của mình hoặc một người cha khốn khổ kia đành nhìn đứa con trai thứ của mình bỏ nhà lao vào chốn thị thành lừa đảo, Người cũng cảm nhận sâu sắc tình cảnh bị bỏ bơ vơ của đám đông dân chúng.

Ðành rằng vẫn có đó những khuôn vàng thước ngọc và vẫn có những cơ cấu tôn giáo được thiết lập trong Ðền Thờ và hội Ðường. Người vẫn cảm thấy dân chúng như những con chiên không người chăn (Mt 9,36). Ðức Giêsu nói bằng tiếng nói của dân tộc. Người không dám diễn thuyết bằng những diễn từ trau chuốt, nhưng kể những câu chuyện mà hầu như ai cũng hiểu được.

Ðức Giêsu đã chết như một người giáo dân. 
Ðó là điều chắc chắn, bởi vì Người là một giáo dân.
Giáo huấn của Người không được phê chuẩn bởi giới chức có thẩm quyền, không có sự công nhận chính thức của các nhà lãnh đạo về tôn giáo. 
Làm thế nào một giáo dân trơn lại có thể tự nhận rằng mình hiểu biết và giải thích lề luật?
Làm thế nào một người như thế lại dám cầm roi đánh đuổi con buôn ra khỏi Ðền Thờ mà không hề có ủy nhiệm của ban bảo vệ Ðền Thờ, những người có trách nhiệm gìn giữ trật tự ở nơi thánh? 

Thế mà Ðức Giêsu vẫn có cái quyền đó, một uy quyền không ai cưỡng lại được, một uy quyền hoàn toàn phát xuất từ bên trong Người và do đó những nhà đương cục phải ngán Người. 
Người là mối đe dọa cho chỗ đứng đã ổn định của họ. 
Thiên Chúa đã chẳng ban quyền cho họ sao? 

Họ cho rằng bổn phận của giáo dân là phải im lặng. Với cả hàng giáo phẩm chống lại mình, không được một ủng hộ chính thức nào, 

Ðức Giêsu phải lâm vào ngõ cụt. Và Người đã bị tố cáo và bị kết án tử hình.Thật là chua xót và đau thương cho Đức Giêsu .