LINH ĐẠO DÒNG PHAN SINH TẠI THẾ (OFS) SỐNG PHÚC ÂM ĐỨC GIÊSU KITÔ-ĐI TỪ PHÚC ÂM ĐẾN CUỘC SỐNG-VÀ TỪ CUỘC SỐNG ĐỀN PHÚC ÂM

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

THỨ SÁU TUẦN THÁNH .A -14 CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ Đồi Golgotha, Núi Can-vê

 

                        Đàng Thánh Giá - Via Doloro 

Hình ảnh ngày nay của 14 chặng đàng Thánh Giá

Kitô Giáo dựa trên niềm tin Chúa Giêsu sống lại từ cỏi chết.  Đoạn đường dẫn đến cái chết đau thương của Ngài trên đồi Golgotha cách nay 2000 năm đã được các tín hữu từ thời sơ khai - lúc còn bị bách hại – trân trọng gìn giữ và  ngày nay hằng năm luôn chân thành tưởng nhớ tại Jerusalem.
Theo truyền thống, đoạn đường này có 14 đoạn bắt đầu từ lúc Chúa Giêsu bị kết án đến lúc được chôn trong mộ.  Qua 2000 năm, tính xác thực của nơi chốn có thể không còn chính xác là nơi nào Đức Mẹ gặp con mình, nơi nào ông Simon bắt đầu phụ Chúa vác thánh giá v.v… Nhưng khoa khảo cổ đã chứng minh ngôi mộ chôn cất Chúa Giêsu là xác thực!  Việc Chúa đã vào thành Jerusalem và chịu đóng đinh trên thập giá là một sự kiện lịch sử không thể chối cải được!

Ngày nay, tại Jerusalem mỗi thứ Sáu lúc 3 giờ chiều đều có đi Đàng Thánh Giá do các linh mục dòng Phanxicô hướng dẫn.  Dọc theo con đường Khổ Nạn là khu buôn bán ồn ào náo nhiệt với mọi thứ âm thanh hổn tạp của các hàng quán mời mọc khách hành huơng mua sắm v.v...


Con đường Chúa chịu nạn bắt đầu gần cổng thành Lion Gate của Jerusalem ngày nay.

Địa điểm các nơi Chúa Giêsu đã đi qua trong ngày thứ sáu tuần thánh - Các số trên bản đồ dưới đây tương ứng với các chặng đàng Thánh Giá




Lion Gate đối diện với núi Cây Dầu (Mount Olive –nơi Chúa cầu nguyện trước khi bị bắt).




CHẶNG THỨ NHẤT: CHÚA GIÊSU BỊ XỬ ÁN




Nơi này ngày nay được gọi là Ecce Homo Arch -  Tổng trấn Pontio Philate đã kết án Chúa Giêsu




CHẶNG THỨ HAI: CHÚA GIÊSU VÁC THÁNH GIÁ





Đoạn đường của chặng thứ hai



Nhà nguyện Flagellation - nơi Chúa chịu đánh đòn - trên chặng đường thứ 2 -




Bàn cờ trên nền nhà thờ, của lính Roma thời Chúa Giêsu






CHẶNG THỨ BA: CHÚA GIÊSU NGÃ XUỐNG ĐẤT LẦN THỨ NHẤT



Bên trong nhà nguyện chặng thứ ba





CHẶNG THỨ BỐN: CHÚA GIÊSU GẶP ĐỨC MẸ








CHẶNG THỨ NĂM: ÔNG SIMON VÁC ĐỠ THÁNH GIÁ CHÚA






CHẶNG THỨ SÁU: BÀ VERONICA LAU MẶT CHÚA











CHẶNG THỨ BẢY: CHÚA GIÊSU NGÃ XUỐNG ĐẤT LẦN THỨ HAI








CHẶNG THỨ TÁM: CHÚA GIÊSU AN ỦI NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ THÀNH GIÊRUSALEM






CHẶNG THỨ CHÍN: CHÚA GIÊSU NGÃ XUỐNG ĐẤT LẦN THỨ BA




CHẶNG THỨ MƯỜI: QUÂN DỮ LỘT ÁO ĐỨC GIÊSU

Chặng thứ 10: cầu thang bên phải cổng chính lối vào nhà thờ Holy Sepulchre




Bên trên là lối vào nhà nguyện


Bên trong nhà nguyện



CHẶNG THỨ MƯỜI MỘT: CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH VÀO THẬP GIÁ
Bàn thờ Công Giáo tại đồi Golgotha - kế bên là tượng Đức Mẹ Sầu Bi







Kế bên tượng Đức Mẹ là bàn thờ Chính Thống Giáo trên đồi Golgotha - nơi Chúa chịu treo trên Thánh Giá




 

CHẶNG THỨ MƯỜI HAI: CHÚA GIÊSU CHỊU CHẾT TRÊN THÁNH GIÁ
Và đây là nơi dựng cây Thánh Giá - thuộc sự quản lý của Chính Thống Giáo





CHẶNG THỨ MƯỜI BA: HẠ XÁC CHÚA GIÊSU


Tảng đá nơi liệm xác Chúa






CHẶNG THỨ MƯỜI BỐN: TÁNG XÁC CHÚA GIÊSU VÀO HUYỆT ĐÁ MỚI



Đây là bàn thờ ngay trên ngôi mộ của Chúa Giêsu



Có phải tất cả những địa điểm trên đều chính xác? - Điều đó có quan trọng không cho Đức Tin của người Công Giáo?  Sau khi Chúa tử nạn và phục sinh, mãi đến thế kỷ thứ 4 Hoàng Đế Constantine mới bỏ lệnh cấm đạo!  Lúc đó Ky Tô Giáo bắt đầu công khai - bắt đầu có những kiến trúc kỷ niệm những gì có liên quan đến cuộc đời Chúa Giêsu sau hơn 300 năm âm thầm nuôi dưỡng niềm tin vào Chúa Ky Tô phục sinh!  Chính xác hay không chính xác - Điều quan trọng nhất là: Chúa đã sống lại!


Đồi Golgotha, Núi Can-vê

Ngày xưa, trên đồi Golgotha - Mẹ đứng nhìn bên thánh giá

hay là

Xưa trên núi Can-vê, Mẹ dâng con cứu đời ....

các bài hát trong mùa Chay gợi cho người công giáo một hình ảnh đau thuơng: Đức Mẹ đứng nhìn con bị đóng đinh trên một ngọn đồi hoang vắng với hậu cảnh xám xịt như chuyển mưa...Các phim ảnh thường dựng lên 3 cây thánh giá contre soleil để lấy bóng đen ....

Thực tế, núi Cal-vê hay Núi Sọ, đồi Gol gô ta v.v... bây giờ nằm trong khu vực Nhà thờ Mộ Thánh Chúa (Holy Sepulchre) ở trong thành Jerusalem.  Khu vực này là khu vực rất nhạy cảm - dễ xảy ra xích mích giữa các phe phái ... Ky tô giáo với nhau.

Đồi Cal vê, tiếng Anh gọi là Calvary,  chính xác hiện tại là một  cái lỗ tròn nằm dưới bàn thờ thuộc quyền cai quản của Chính Thống Giáo - là nơi cây thánh giá Chúa chịu đóng đinh đã được dựng lên cách nay hơn 2000 năm - chung quanh còn vết tích núi đá ngày xưa.


Khu vực Holy Sepulchre


Dưới bàn thờ Can vê (Calvary) - là nơi dựng cây thánh giá Chúa chịu đóng đinh




Tượng Đức Mẹ Sầu Bi ở giữ bàn thờ bàn thờ Cal vê của Chính Thống Giáo Hy Lạp và Công giáo


Nhìn kỷ sẽ thấy bàn thờ Cal vê ngay chính giữa - hai bên là núi đá đồi Cal vê ngày xưa


Người hành huơng có thói quen hôn kính nơi dựng thánh giá dưới bàn thờ


Đá Cal vê, dưới chân giá đèn, trong lồng kiếng


Trên bàn thờ là hình Chúa tử nạn


Vết nứt ở núi đá Cal vê được cho là do trận động đất gây ra khi Chúa chết


Ngôi mộ Chúa Giêsu - hiện tại là bàn thờ chính trong khu vực Holy Sepulchre!


Chịu khó sắp hàng đợi khoảng 45 phút sẽ vào được bên trong ngôi mộ Chúa Giêsu



CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM A

Tiệc Ly - Thứ Năm Tuần Thánh

Buổi Tiệc Ly - thường được liên tưởng đến bức họa nổi tiếng của danh tài Leonard de Vinci "The Last Supper" thể hiện bửa ăn sau cùng của Chúa Giêsu và 12 môn đệ. Bửa ăn tối cách nay 2000 năm này, ngày nay vẫn còn được nhắc đến -một cách rầm rộ - gần đây nhất là trong bộ phim dựa trên tiểu thuyết cùng tên "Mật mã Da Vinci"
Khi đến Jerusalem hành hương, du khách chắc chắc sẽ được giới thiệu đến xem căn phòng Tiệc Ly (Mc 14:12-15) , còn được gọi là "Nhà thờ của các Tông Đồ" là nơi Chúa Thánh Thần Hiện Xuống trên các Ngài (Cv 1:13, 2:1)
Trải qua 2000 năm với các cuộc Thánh Chiến tranh giành Jerusalem, Phòng Tiệc Ly cũng như hầu hết các địa điểm có liên quan đến Chúa Giêsu ngày nay thuộc quyền sở hữu của các giòng tộc Hồi Giáo.
Cửa vào Phòng Tiệc Ly ở lầu trên (mũi tên) - nhìn từ dưới.
Nhìn từ tầng trên
Bên trong nhìn ra - cửa vào bên trái. Ở giữa là cây olive bằng đồng do Catholic Association dâng tặng. Hội này đã tài trợ chi phí trùng tu Phòng Tiệc Ly
Chi tiết cây olive bằng đồng
Bên trái là của ra ban công phía nam. Nơi mũi tên: dấu vết Kytô giáo thời Thập Tự Chinh
Từ cổng vào nhìn thẳng: cửa ra ban công phía Nam - cửa sổ với hoa văn Hồi Giáo
Nơi mũi tên: hình chim bồ nông mổ thịt mình nuôi 2 chim con bên phải và bên trái - dấu vết từ thời thế kỷ XII - tượng trưng Chúa Giêsu hy sinh mạng sống cứu chuộc nhân loại. (Mt 26, 26-28)
Khách hành hương
ĐGH Gioan Phaolô II dâng lễ tại Phòng Tiệc Ly trong chuyến Tông Du năm 2000. Khăn bàn thờ có thêu hình chim bồ câu và lưỡi lữa.
Sau bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu và các môn đệ đi qua vườn cây dầu (Gethsemani) bên núi Olive, bắt đầu cuộc thương khó và tử nạn trên đồi Golgotha.

KIỆU LÁ . NĂM A



Tin Mừng: Mt 21,1-11
           

Mấy ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su và các môn đệ đến gần thành Giê-ru-sa-lem và tới làng Bết-pha-ghê, phía núi Ô-liu, Đức Giê-su sai hai môn đệ và bảo: "Các anh đi vào làng trước mặt kia, và sẽ thấy ngay một con lừa mẹ đang cột sẵn đó, có con lừa con bên cạnh. Các anh tháo dây ra và dắt về cho Thầy. Nếu có ai nói gì với các anh, thì trả lời là Chúa cần đến chúng, Người sẽ gởi lại ngay". Sự việc đó xảy ra như thế để ứng nghiệm lời ngôn sứ: Hãy bảo thiếu nữ Xi-on: Kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ. Các môn đệ ra đi và làm theo lời Đức Giê-su đã truyền. Các ông dắt lừa mẹ và lừa con về, trải áo choàng của mình trên lưng chúng, và Đức Giê-su cỡi lên. Một đám người rất đông lấy áo mình trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá mà rải lên lối đi. Đám đông, người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời. Khi Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: "Ông này là ai vậy?" Đám đông trả lời: "Ngôn sứ Giê-su, người Na-da-rét, xứ Ga-li-lê đấy". 


Vườn Gethsemani - Núi Cây Dầu

 Hwww.40giayloichua.netình ảnh về Vườn Gethsemani nơi Chúa Giêsu cầu nguyện: "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha." (Lc 22, 42)
Núi Cây Dầu (Mount of Olives) nằm ở phía Đông cổ thành Jerusalem
Núi Cây Dầu nhìn từ thành Jerusalem - nhà thờ Gethsemani ở gần trung tâm
Tường thành Jerusalem nhìn từ Nhà thờ Gethsemani
Church of the Agony: Tên chính thức được gọi là Church of All Nations do nhiều quốc gia đóng góp tài chánh - Argentina, Brazil, Chile, Mexico, Italy, France, Spain, United Kingdom, Belgium, Canada, Germany, Hoa Kỳ, Ireland, Hungary, Balan và Úc.
Nhìn từ cửa nhà thờ
Ngay trước bàn thờ là tảng đá được tin là nơi Chúa Giêsu cầu nguyện trước lúc bị quân lính bắt đi.
Các đoàn hành hương dâng lễ chung quanh tảng đá trước bàn thờ
Cung Thánh
Cổng vào Vườn Gethsemani
Cây Dầu (Olive) trong khuôn viên nhà thờ
Lối vào Gethsemani Grotto, nơi Judas hôn Chúa Giêsu
Gethsemani Grotto
Nhìn từ bên ngoài

Từ vườn Gethsemani, Chúa Giêsu bị điệu tới nhà vị thượng tế Caipha cách đó 1.3 km khoảng 15 phút đi bộ. Tại đây Thánh Phêrô đã 3 lần nói không biết ông Giêsu là ai!
                                                                   www.40giayloichua.net

Thứ Tư, 2 tháng 4, 2014

NHÂN BẢN KI TÔ GIÁO -CÁC NHÂN ĐỨC


                                                              Tài liệu huấn luyện
                                                    

 NHÂN ĐỨC ĐỐI THẦN

Gọi là nhân đức đối thần vì những nhân đức nầy quy chiếu trực tiếp về Thiên Chúa. Đối với Kitô giáo, các nhân đức đối thần là nền tảng và linh hồn của toàn bộ đời sống luân lý. Thiên Chúa ban cho ta những nhân đức nầy, để ta có khả năng hành động như con cái Thiên Chúa và đáng hưởng sự sống đời đời. Có ba nhân đức đối thần : Tin, Cậy và Mến (1Cr 13,13).
 Đức tin :
Đức Tin là một nhân đức nhờ đó ta tin vào Thiên Chúa, tin tất cả những gì Người nói và mặc khải, cũng như những gì Hội Thánh dạy ta phải tin. Khởi đầu thì đó chỉ là một niềm tin trước thần linh, nhưng nhờ giáo dục và từng trải, niềm tin ngày một kiên định trở thành một nhân đức : Đức Tin. Đức Tin là một hồng ân nhưng đồng thời cũng là sự đáp trả của con người trước hồng ân của Thiên Chúa (Thánh Âu Tinh : "Nếu mạc khải là con đường Thiên Chúa đến với con người thì đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa" (GLHTCG, b. 2). Sự đáp trả ấy mang tính toàn diện nghĩa là của cả lý trí, tình cảm và hành động. Vì thế, đức tin phải được biểu hiện bằng hành động cụ thể, vì "Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết" (Gc 2, 17). Hơn thế nữa, người môn đệ Chúa Kitô còn phải can đảm làm chứng và truyền bá đức tin (GH,  42). Đòi hỏi nầy xuất phát từ chính bản thân của đức tin, và là đòi hỏi cần thiết để được cứu độ. Muốn được cứu độ, phải sống chứng nhân Tin Mừng: Tuyên xưng đức tin trước mọi người, ở mọi nơi, trong mọi lúc ("Ai nhận Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời"  - Mt 10, 32-33  ; "Vì trong Tin Mừng, sự công chính của Thiên Chúa được mặc khải, nhờ đức tin để đưa đến đức tin, như có lời chép: Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống" - Rm 1, 17; "Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế" - 1Pr 5, 9).
  Đức cậy :
Cậy trông sự trợ giúp là Chúa Thánh Thần, và cứu cánh chính là hạnh phúc Nước Trời. Vì thế, đức Cậy còn gọi là sự tín thác vào Chúa quan phòng. Như vậy, Đức Cậy là nhân đức nhờ đó ta khao khát Nước Trời, và sự sống vĩnh cửu như hạnh phúc của đời mình, tin tưởng vào các lời hứa của Chúa Kitô, và phó thác vào ơn trợ lực của Chúa Thánh Thần ("Hãy tin vào Người, thì Người sẽ nâng đỡ con. Đường con đi, hãy giữ cho ngay thẳng và trông cậy vào Người" - Hc 2, 6). Đối với người Kitô hữu, đích điểm của hy vọng không chỉ là hạnh phúc trần thế, nhưng chính là Thiên Chúa, là Nước Trời và sự sống vĩnh cửu ("lòng tin và lòng mến đó phát xuất từ niềm trông cậy dành cho anh em trên trời, niềm trông cậy anh em đã được nghe loan báo khi lời chân lý là Tin Mừng đến với anh em" - Cl 1, 5). Đồng thời người Kitô hữu ý thức rằng tự mình không thể đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu ấy, nhưng phải nương tựa vào Chúa. Chính vì thế, hy vọng trở thành cậy trông. Đức cậy trông là cái neo chắc chắn bền vững của tâm hồn, là vũ khí bảo vệ ta trong cuộc chiến thiêng liêng, và mang lại cho ta niềm vui ngay giữa những gian truân thử thách ("Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân... " - Rm 12,12). Lời cầu nguyện vừa diễn tả vừa nuôi dưỡng đức cậy trông ("cầu nguyện là nâng tâm hồn và trí khôn lên với Chúa" - GL/HTCG), vì thế ta cần phải đi sâu hơn mỗi ngày vào đời sống cầu nguyện ("Ai quen chịu đựng, thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên, thì có quyền trông cậy... Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta" - Rm 5, 4, 5).
  Đức mến :
Đức ái là nền tảng Kitô giáo. Đức ái là đức yêu thương không bờ bến, không giới hạn nhằm đến 2 đối tượng chính yếu : Thiên Chúa và con người ("Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" - Mt 22, 37-39). Đức Mến (cách gọi khác của đức ái) là nhân đức nhờ đó con người yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự vì chính Chúa, và vì yêu mến Thiên Chúa, con người sẽ yêu mến anh em (người thân cận) như chính bản thân mình ("Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" - Ga 15, 12). Đức Mến thúc đẩy ta sống con thảo với Cha trên trời, và là anh em của mọi người ("Lời truyền dạy đó phải nhằm đưa tới đức mến phát xuất từ tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình" - 1Tm 1, 5).

 



Đức mến được coi là "mối dây liên kết tuyệt hảo" (Cl 3,14), là linh hồn của mọi nhân đức, sự viên mãn của lề luật, là nguồn mạch và cùng đích của việc thực hành các nhân đức : "Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến" (1Cr 13,13). Chúa Kitô chính là gương mẫu cao cả nhất thể hiện đức mến. Người đã chịu chết vì yêu mến con người ngay lúc con người còn thù nghịch với Thiên Chúa. Vì thế, Người mời gọi ta yêu thương như Người (Mt 5,44), yêu cả kẻ thù và đón nhận người bé mọn nghèo hèn như đón nhận chính Người (Mt 25, 40-45). Khi con người đã đón nhận nhân đức cao quý này từ Thiên Chúa, rồi duy trì và phát triển, thì cũng chính là lúc con người vươn tới tự do đich thực, để được hưởng hạnh phúc đời đời bên thánh nhan Thiên Chúa ("Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người" - 1Tm 1, 14 ; "Quả thế, thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau - Gl 5, 13).

Ngoài ba nhân đức đối thần, Chúa Thánh Thần còn ban các hồng ân và hoa trái thiêng liêng, giúp người tín hữu dễ dàng sống theo sự hướng dẫn của Người. Bảy ơn Chúa Thánh Thần là : Ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn dũng cảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn biết kính sợ Chúa. Truyền thống của Hội Thánh cũng nói đến 12 hoa trái của Thần Thánh ("Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân từ, lương thiện, hiền hòa, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ và thanh khiết" - Gl 5,22-23).

 .Nhân đức đối thần đều quy về một mối duy nhất : Đức Ái. Đức Ái là hồng ân Thiên Chúa ban tặng con người một cách nhưng không (không cần đáp trả). Khi con người đón nhận hồng ân, tuy không đòi buộc đáp trả, nhưng phải ý thức và sống sao cho xứng đáng với tình thương vô biên ấy. Cũng không phải cứ an an tự tại vui hưởng, mà còn phải tìm mọi phương cách học hỏi, trau giồi cho đức hạnh ngày một trưởng thành và hoàn thiện hơn. Sự đáp trả của con người đối với Thiên Chúa hoàn toàn tự nguyện, nên càng cần phải đem hết linh hồn, hết trí khôn và sức lực ra để thực hiện với niềm hy vọng vươn tới hạnh phúc vĩnh cửu đời sau, chính bởi  vì ĐỨC TIN LÀ HY VỌNG.
 

                                                 


                                                             NHÂN ĐỨC ĐỐI NHÂN

Các đức tính nhân bản là những xu hướng bền vững, dẫn đến thái độ kiên định và thói quen hướng thiện của lý trí và ý chí ; nhờ đó con người điều chỉnh các hành vi và cách sống của mình theo lý trí và đức tin. Có năm đức tính căn bản : bác ái, khôn ngoan, công bình, can đảm và tiết độ.
Nhân đức bác ái :
Điều răn quan trọng nhất mà Đức Kitô thường răn dạy là : "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" (Mt 22, 37-39). Bác ái là tình yêu thương rộng lớn giữa Thiên Chúa với loài người và giữa loài người với nhau. Có thể nói nhân đức bác ái bao trùm lên tất cả các đức tính nhân bản. Cứ nhìn vào những trẻ thơ sẽ thấy tình bác ái đẹp biết chừng nào. Chúng yêu thương tất cả mọi người, mọi sinh vật, thậm chí cả những đồ vật nữa. Chẳng thế mà khi nghe các môn đệ thắc mắc ai là người lớn nhất Nước Trời, Đức Giêsu đã trả lời : "Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời" (Mt 18, 3-4). Con người có được nhân đức bác ái như thế, vì nó được khơi nguồn từ Thiên Chúa Tình Yêu. Nó sẽ ngày càng tăng trưởng nhờ vào sự giáo dục, nhất là giáo dục đức tin.
 Nhân đức khôn ngoan :
Khôn ngoan là đức tính giúp ta nhận ra đâu là điều thiện đích thực trong từng hoàn cảnh, và khi đã nhận ra thì biết chọn lựa phương thế thích hợp để đạt tới. Không nên lầm lẫn khôn ngoan với nhút nhát và sợ hãi, né tránh những cam go thử thách, lại càng không thể đồng hóa khôn ngoan với sự tráo trở, giả hình. Nhờ khôn ngoan, con người biết ứng dụng lề luật luân lý vào những hoàn cảnh cụ thể để thi hành điều thiện cách tốt đẹp nhất. ("Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình" - Gc 3, 17). Cũng chính nhờ nhân đức khôn ngoan mà con người có thể đoán hiểu được những mạc khải chân lý từ Thiên Chúa, để từ đó có thể trở nên con cái đích thực của Người.
 Nhân đức công chính :
Công bình không phải là cào bằng mọi giá trị (vật chất, tinh thần) của bản thân với tha nhân hay ngược lại. Công bình là nhân đức, nhờ đó con người biết nhận ra cái gì là của mình, cái gì là của anh em, còn cái gì là của Thiên Chúa. Công bình là trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa, và trả cho tha nhân những gì thuộc về họ. Công bình đối với Thiên Chúa được gọi là "nhân đức thờ phượng", còn đối với con người thì công bình là tôn trọng quyền lợi của mỗi người, đối xử công minh với mọi người và thực thi công ích. Con người ngay thẳng chính trực thường có một cái tâm công bình, vì thế xã hội (cả Giáo Hội nữa) coi những người ấy là người công chính (như Thánh cả Giuse, chẳng hạn). Để trở nên người công chính, con người phải biết sống công bằng, ngay thẳng, thành thật ("Vậy, Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pha-ri-siêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời" - Mt 5, 20 ; "Người công chính sẽ vui mừng trong Chúa, và ẩn náu bên Người. Mọi tấm lòng chính trực đều lấy thế làm vinh" - Tv 64, 11 ; "Vì trong Tin Mừng, sự công chính của Thiên Chúa được mặc khải, nhờ đức tin để đưa đến đức tin, như có lời chép : Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống" - Rm 1, 17)
Đức tính can đảm :
Can đảm là kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện cho dù có nhiều khó khăn cản lối, có nhiều thử thách cam go ("Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian" - Ga 16, 33). Nhờ can đảm, con người cương quyết chống lại các cơn cám dỗ, vượt qua các chướng ngại trong đời sống luân lý, chiến thắng sự sợ hãi (kể cả cái chết), để dám sống cho chính nghĩa ("Người nói : Hỡi người được quý mến, đừng sợ. Cứ an tâm. Can đảm lên ! Can đảm nữa lên !  Trong khi người nói với tôi như thế, tôi lấy lại được can đảm và đáp lại rằng : Xin ngài cứ nói, vì ngài đã làm cho tôi nên can đảm" - Đn 10, 19). Cũng cần nhấn mạnh can đảm không phải là cứ nhắm mắt làm liều, làm bừa, mà cần phải biết kết hợp với sự khôn ngoan và ơn Chua Thánh Thần soi sáng để nhận rõ mục đích của hành động. Khi đã biết chắc chắn đó là mục đích tốt đẹp mới dũng cảm và kiên cường vượt thắng.
 Đức tính tiết độ :
Tiết độ là biết điều tiết sức lôi cuốn của những lạc thú và sử dụng đúng mức những của cải trần thế. Nhờ đó, con người làm chủ được các bản năng tự nhiên và kiềm chế các ham muốn lệch lạc trong giới hạn chính đáng. ("Hãy khuyên các cụ ông phải tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, vững mạnh trong đức tin, đức mến và đức nhẫn nại" - Tt 2, 2). Đức tính tiết độ chính là cách trung hoà các cảm xúc mà Đông phương học gọi đó là thái độ 'trung dung', không thái quá cũng không bất cập, nhờ vậy mà nhận chân được đâu là những dục vọng lệch lạc cần phải kiềm chế, đâu là những lương năng tốt đẹp cần phát huy (lương năng : năng lực lương thiện).

 




Những đức tính nầy được gọi là nhân bản, nghĩa là thuộc về con người. Đã là người, phải có những đức tính căn bản đó. Nhiều người tuy không có niềm tin tôn giáo nhưng vẫn có những đức tính đáng quý nầy. Người Kitô hữu càng cần phải có những đức tính nhân bản hơn những người khác, vì muốn làm con Thiên Chúa thì trước hết phải sống cho ra người. Có được những đức tính nhân bản trước hết là nhờ ân sủng Thiên Chúa trao ban, sau đó là nhờ giáo dục, sự kiên trì tập luyện và thực hành trong đời sống. Tuy nhiên, tội lỗi đã làm con người bị tổn thương; vì thế, ngoài những nỗ lực tự nhiên, ta còn cần đến ơn Thiên Chúa nâng đỡ nhờ cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích và cộng tác với ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.
                                        Chào anh chị em

TUỔI CAO NIÊN




Người ta nói tre già măng mọc. Nhưng nếu không có tre thì chẳng có măng.

Tiền đồ của HĐĐ/PSTT/Thánh Gia Đa Kao trong suốt 54 năm hành trình có được như ngày hôm nay thì cũng là công ơn đóng góp của anh chị tiền bối và các lớp kế thừa.Các anh chị một đời vất vả, long đong, lận đận, miệt mài đến quên thân mình hy sinh phục vụ,đào tạo các lớp kế thừa nên mới có một cơ ngơi về nhân sự cho đến ngày hôm nay
NHỮNG THÁCH ĐỐ TRONG TUỔI GIÀ
Sức khoẻ yếu kém - ốm đau- bệnh tật
Trong công nghị Hồng y đoàn ngày 11/02/2013, ĐGH Bênêdictô XVI đã lên tiếng xin từ nhiệm: “Sức lực của tôi vì tuổi cao không còn thích hợp, để thi hành sứ vụ thánh Phêrô một cách thích đáng.” Ngài xin rút lui về hưu, hứa sẽ cầu nguyện cho Giáo hội và cho vị kế nhiệm cũng như hứa tuân phục ngài.
Thách đố đầu tiên đối với người cao tuổi là tình trạng bệnh tật: tim mạch, thấp khớp, áp huyết cao, rối loạn tiền đình, tiểu đường, mắt mờ chân chậm… Tiếc là trí khôn bây giờ không còn tinh anh nữa, mà có nghĩ được cũng không làm được. Đó là chưa kể tình trạng trí nhớ trở thành trí quên. Vừa nói đó đã quên ngay
Cái phải đối mặt đầu tiên là sức lực yếu kém. Điều tôi muốn làm mà không làm được và tất nhiên phải nhờ đến người khác. Nhờ đến người khác mà chẳng ai tha thiết với mình. Điều đó dẫn đến mặc cảm già cả, mặc cảm bị mọi người coi thường
Những biến chứng về sinh lý sớm muộn gì cũng lôi theo những di chứng về tâm lý. Rất tội nghiệp, nhiều khi mình tự làm khổ mình. Mặc cảm ốm đau bệnh tật, nghi ngờ cộng đoàn xử tệ với mình vì không thấy anh chị em trong HĐĐ đến thăm mình và sống trong tình trạng hụt hẵng vì mình cảm thấy nhân tình thế thái .Khi mình có chức có quyền,cống hiến cho Dòng người này săn đón, người kia mời chào…bây giờ thì cứ lủi thủi một mình


            SỐNG THỌ LÀ HỒNG PHÚC CHÚA BAN
Tuổi cao là phúc lộc trời cho, nhờ phúc ấm tổ tiên. Người có tuổi và gia đình có người cao tuổi là gia đình diễm phúc. Nhờ có phúc mới được sống lâu, mới có con cháu đề huề. Mừng thọ cũng chính là mừng cái phúc ấy.
Gia đình nào có các cụ cao niên cũng coi đó là phúc đức. Vì các cụ cao niên có cả một kho kinh nghiệm để lưu truyền lại. Sự hiện diện của các cụ làm cho gia đình được ấm cúng, trên dưới đề huề.
Sách giảng viên ”Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời: Một thời để chào đời. Một thời để lìa thế. Một thời để khóc lóc. Một thời để vui cười.”   (Gv 3,1-2.4)
Hành trình đời người dài ngắn không quan trọng, làm được nhiều hay ít cũng không quan trọng. Quan trọng là khám phá chính mình. Cảm nghiệm được tình yêu thương quan phòng của Chúa qua từng hơi thở, từng nhịp đập của con tim. Chỉ xin cho mình ”khiêm tốn đủ để nhận lãnh, quảng đại đủ để trao tặng.”
Có lúc các anh chị cao niên nhìn lại chặng đường đã qua,một chặng đường sinh hoạt và trưởng thành của HĐĐ/Thánh Gia Đa Kao, có những lúc lòng mình reo vui sung sướng, nước mắt hạnh phúc dâng trào. Lạ quá, mình có là chi mà Chúa thương yêu. Mình là gì mà được Chúa gọi tên đi theo Ngài. Được làm môn đệ Cha Thánh chí ái Phan xi cô đó là cả một hành trình dài của một đời người. Sao thấy mình quá nhỏ bé mà được trao những “phận sự” quá lớn lao. Hạnh phúc vì có các em kế thưà cho mai sau ,nhìn quanh đâu cũng thấy yêu thương và trìu mến.
Ngày hôm nay, nhìn lại đời mình thấy quá đẹp. Quả thật, có nếp nhăn nheo của làn da, những vết chân chim ở khoé mắt thấy tình trạng già nua của tuổi tác, bệnh tật của thân xác… âu cũng là “dấu tàn phá của thời gian”.
Qua Thánh vịnh 90 mời gọi ,em mời các anh chị cao niên hướng về Thiên Chúa là chủ thời gian để cầu xin với niềm tin tưởng lạc quan:
“Xin dạy con đếm những tháng ngày mình sống
Ngỏ hầu tâm trí được khôn ngoan.”
“Từ buổi mai xin cho đoàn con được no say tình Chúa,
Để ngày ngày được hớn hở vui ca.” (Tv 90,12.14)
Già ơi: chào bạn. Vậy thì thà chấp nhận có một tuổi già, chủ động tích cực chờ đón nó và tìm hiểu nó. Không gì đẹp bằng một người già minh mẫn, hiền từ, khoẻ mạnh, ôn tồn và gần gũi với các anh em chị em.
André Maurois cũng viết: “Sau 50, 60, 70, 80 năm nếm trải những thành công, thất bại, hỏi ai còn giữ được những điều sung mãn thời trẻ. Đi vào hoàng hôn cuộc đời như đi vào ánh sáng đã điều hoà, ít chói chang hơn, mắt khỏi bị loá bởi những mầu sắc rực rỡ của bao ham muốn. Người ta nhìn mọi vật đúng với thực chất của nó.”

 Sống linh đạo tuổi già
Và điều quan trọng cho định hướng cho đời mình: cần có lòng nhân ái, cần sự đóng góp với Hội Dòng, với Tỉnh Dòng bằng lời cầu nguyện, hy sinh. Chính những hy sinh âm thầm, sẵn sàng chấp nhận những khó khăn trong điều kiện vật chất còn giới hạn, đời sống của các anh chị sẻ là chứ ng nhân kéo ơn Chúa xuống cho cộng đoàn nhờ các gương sáng của anh chị lớn tuổi sẽ giúp cho cộng đoàn được đi đúng hướng của đời thánh hiến. Đó là cách đóng góp tốt nhất cho Hội Dòng, Tỉnh Dòng. Do đó ngày nào ta còn sống có ích, dù chỉ là một lời cầu nguyện, một hy sinh nhỏ bé thì ta đang sống hạnh phúc, an vui.
Trong sứ điệp gửi những người già và các bệnh nhân, các nghị phụ công đồng Vatican II đã nhắn gửi: “Anh chị em lớn tuổi, nhất là những anh chị em trong tình trạng ốm đau bệnh tật, các bạn là những chứng nhân đau khổ của Chúa Kitô khổ nạn, nếu các bạn muốn các bạn sẽ là những người đồng cứu chuộc với Chúa Kitô.” (08/12/1965)
Cả lúc con già nua da mồi tóc bạc,
Lạy Thiên Chúa xin đừng bỏ rơi con,
Để con tường thuật quyền năng của Chúa
Cho thế hệ này được rõ
Và dũng lực của Ngài, cho thế hệ mai sau. (Tv 71,18)
Bước vào tuổi cao niên, chúng ta đã có một phần đóng góp với đời, với Dòng, cũng như đã trải nghiệm qua nhiều tình huống hỷ, nộ, ái, ố. Cuộc đời muôn vẻ sẽ được tô đậm thêm nên nếu chúng ta vui vẻ chào đón giai đoạn tuổi già của mình.
Trong tâm tình tình tạ ơn Chúa. Tạ ơn về hồng ân thánh hiến. Tạ ơn về cả những khuyết điểm của mình .Và nhớ lại ngày chúng ta khấn Dòng chúng ta theo Chúa sống Lời Chúa . Và nghe lời khuyên bảo của Cha Thánh sống đời hoán cải chúng ta tin tưởng rằng tình yêu của Chúa mạnh hơn sự mỏng dòn yếu đuối của chúng ta, lòng trung tín của Ngài mạnh hơn sự bất trung của ta Ngài luôn tha thứ
            Xin chào bình an và thiện hảo

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY NĂM A

C
                                       
  CHÚA NHẬT V MÙA CHAY NĂM A
 Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”.
           

                                        (Ga 11,25-26)





 

CON NGƯỜI NHÂN BẢN KI TÔ GIÁO

   Con Người Nhân Bản Kitô Giáo 

            CON NGƯỜI - GIA ĐÌNH -  XÃ HỘI 

 Kính Chào anh chị em

Trong Thông điệp "Ngày thế giớí hoà bình", ĐGH Gioan Phaolô II viết : "Mỗi người đều được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa (St 1, 26-28), do đó được quy hướng một cách triệt để về Đấng Tạo Hoá, và sống trong mối quan hệ thường xuyên với những ai có cùng một phẩm giá. Vậy thăng tiến lợi ích của cá nhân là phục vụ lợi ích chung. Chính lợi ích chung là nơi mà quyền lợi và nghĩa vụ gặp nhau và tăng cường lẫn nhau" - Tđ "Ngày thế giới hoà bình", 1999, số 2). Con người là hình ảnh Thiên Chúa và Thiên Chúa lại là một cộng đoàn ba ngôi vị ; vì thế, đặc tính cộng đoàn đã được in sâu vào bản tính con người. Thật vậy, con người cần được sống trong xã hội. Ngay từ khi Thiên Chúa dựng nên nguyên tổ loài người, Người cũng đã tác tạo cho "có nam, có nữ' và phán : "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất" (St, 28). Cuộc sống quần cư đã tạo nên nhiều mối tương quan mật thiết giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng và giữa cộng đồng (quốc gia) này với cộng đồng khác (thế giới).

 ĐẶC TÍNH CỘNG ĐOÀN CỦA ƠN GỌI LÀM NGƯỜI

Khi cầu nguyện với Chúa Cha "Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta... Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một" (Ga 17,21-22), Đức Giêsu đã nói lên một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của con cái Chúa trong chân lý và Đức Ái (MV 24). Thật vậy, con người cần được sống trong một cộng đoàn yêu thương . Và cái môi trường đầu tiên thể hiện tình yêu thương đó là gia đình.
 

 GIA ĐÌNH
. Gia đình là hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi :
Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã "sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa" (St 1, 27), đồng thời thiết lập một quan hệ mật thiết mang tính cộng đồng "có nam, có nữ". Đó là gia đình đầu tiên của nhân loại. Vì con người là hình ảnh sống động của Thiên Chúa, nên có thể nói Gia đình cũng mang đậm hình ảnh  : Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa có 3 ngôi vị, nhưng chỉ một Thiên Chúa duy nhất. Tương tự, gia đình cũng có 3 ngôi vị (cha, mẹ, con cái), nhưng cùng được xây dụng chung trên một nền tảng vững chắc : gia đình. Gia đình là nền tảng vững chắc của các giá trị tinh thần và luân lý đạo đức . Mặt khác, gia đình cũng không thể thiếu những gì cần thiết về mặt vật chất, đó là tài sản của gia đình - thành quả lao động của người này, do sự tiết kiệm của người khác, và do sự cộng tác tích cực của mọi người. Những tài sản ấy cần được quản lý tốt, trong tình liên đới, không keo kiệt quá, cũng không phí phạm. Để có hạnh phúc trong gia đình, cần phải có một sự quản lý tốt các của cải vật chất cũng như quan hệ giữa con người với nhau. Lơ là đối với các khía cạnh ấy, sẽ đưa tới hậu quả là làm thương tổn sự tín nhiệm lẫn nhau, dần đưa gia đình tới chỗ mất quân bình, dễ đổ vỡ. Gia đình, vì thế, là nền tảng xã hội, đồng thời là Giáo Hội thu nhỏ. 


 Gia đình là nền tảng xã hội, là Giáo Hội tại gia : 
Gia đình là Giáo Hội tại gia, là trường học tự nhiên và căn bản trong nền giáo dục Kitô giáo. Mọi thành viên của gia đình, ông bà, cha mẹ và các anh chị em sống đạo nhiệt thành làm thành truyền thống đức tin gia đình. Nơi đây, đức tin được truyền thụ qua những lời cầu nguyện, lời khuyên nhủ , đặc biệt trong những biến cố vui buồn của cuộc sống và qua những mẫu gương đức tin. Gia đình còn là "chiếc nôi của sự sống và tình yêu" (GHXH/GH, 209) giúp các phần tử gia đình cảm nghiệm tình yêu và lòng trung thành của Thiên Chúa, đồng thời cũng giúp hình dung trước những mối tương quan liên vị trong xã hội. Nói khác hơn, gia đình là môi trường xã hội, ở đó đức tin triển nở, như lời dạy của ĐGH Gioan Phaolô II :  "Trong cuộc đời của họ không thể có hai lối sống song song : một bên là "thiêng liêng" với những giá trị và những bó buộc riêng ; bên kia là "trần thế", nghĩa là gia đình, công việc làm ăn, tương giao xã hội, dấn thân làm chính trị, sinh hoạt văn hoá... Thật vậy, tất cả các lãnh vực của đời sống giáo dân đều quy hướng vào ý định của Thiên Chúa, Ngài muốn tất cả chúng ta phải là "môi trường lịch sử" để Đức ái của Chúa Kitô được mặc khải và thể hiện cho vinh danh Chúa Cha, và phục vụ anh em mình. Tất cả các sinh hoạt, các hoàn cảnh, các cuộc dấn thân cụ thể - khả năng và liên đới trong công việc làm ăn, tình yêu và sự tận tụy trong gia đình hay trong việc giáo dục con cái, dịch vụ xã hội và chính trị, việc triển khai chân lý trong thế giới của văn hoá - tất cả những việc đó là cơ hội được quan phòng để thể hiện "việc thực hành liên tục Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái". (TH/KTHGD V, 59)
 

Ngoài ra, gia đình không thể tách rời khỏi giáo xứ, vì giáo xứ chính là hình ảnh của Giáo Hội mang tính xã hội trần gian ("Giáo Hội là xã hội trần gian" - SL. GDKTG, 3). Mối tương quan giữa gia đình và giáo xứ cũng không khác mối tương quan giữa gia đình và xã hội. Nếu tại gia đình, đức tin được truyền thụ bằng phương pháp tiếp cận và thực hành, những bài học được giảng dạy ngay giữa thực tế, thì tại giáo xứ, đức tin được thông truyền nhờ giảng giải và việc cử hành phụng vụ. Vấn đề giáo dục nhân bản cũng vậy, chính khi đối chiếu và đón nhận cảm tưởng của nhau, đoàn kết yêu thương nhau và cầu nguyện chung với nhau, đức tin và đức tính nhân bản của Kitô hữu được nuôi dưỡng, củng cố và phát triển. Có thể khẳng định : Nếu đơn vị hành chánh cơ sở (làng xã, thôn bản, phường khóm) là môi trtường phát triển nhân bản tình xã hội, thì giáo xứ là mội trường thuận lợi triển nở đức tin và nhân bản Kitô giáo.
Xây dựng gia đình : 
Không gì sánh bằng mẫu gương gia đình Nazaret. Muốn xây dựng một gia đình Kitô giáo đích thực thì người cha phải học theo gương thánh cả Giuse, một người công chính, bao dung, mẫu mực trong mọi sinh hoạt ở gia đình và luôn vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Người mẹ thì phải học nơi Đức Maria - Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Giáo hội - là người hội đủ mọi đức tính của người vợ + nguời mẹ trần thế, đồng thời là một thánh nhân được Thiên Chúa tuyển chọn từ trước vô cùng, luôn biết nói xin vâng và thực hiện theo mọi yêu cầu của Thiên Chúa. Còn người con trong gia đình hãy làm sao cho xứng đáng là môn đệ Đức Giêsu Kitô, bởi Người là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, vậy mà khi nhập thế và nhập thể làm người trần thế, Người đã sống đúng cương vị một người con trong gia đình, không bao giờ làm cha mẹ buồn lòng (cứ nhìn hình ảnh "bác thợ mộc Giêsu, con ông Giuse ở làng Nazaret" (Mt 13, 51-57)hoặc hình ảnh một Chúa Trời đất trên thập tự đã "trối ông thánh Gioan cho Đức Mẹ" (Ga 19, 26), thì đủ hiểu).
 

 XÃ HỘI
Tương quan giữa gia đình và xã hội :
Nhờ sự trao đổi, đối thoại với người khác và nhờ sự phục vụ lẫn nhau, con người phát triển khả năng nhân bản của mình. Mỗi người đều đón nhận từ xã hội nhiều di sản làm nên nhân cách của mình, và đến lượt họ, phải góp phần xây dựng xã hội. Tuy nhiên, nếu đời sống xã hội giúp nhiều cho con người chu toàn sứ mạng của mình, kể cả sứ mạng tôn giáo, thì cũng không thể phủ nhận rằng "con người vì những hoàn cảnh xã hội họ đang sống và tiêm nhiễm ngay từ thuở thiếu thời, nên nhiều khi xa cách không làm điều thiện và bị lôi kéo làm điều ác" (MV 25). 

Chính vì thế phải làm sao để mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội được hài hòa và mang lại nhiều ích lợi. Trong tương quan giữa gia đình và xã hội cần phải ưu tư nơi các giá trị con người ; nó cần thiết cho sinh hoạt truyền giáo và tông đồ. Chính trong ý nghĩa đó, Công Đồng Vaticanô II đã viết: "(Giáo dân) sẽ yêu thích nhiều khả năng nghề nghiệp, ý nghĩa gia đình và công dân, và các nhân đức liên quan đến đời sống xã hội như thanh liêm, tinh thần công lý, thành thật, tế nhi, khẳng khái. Không có những nhân đức đó thì không có đời sống Kitô hữu chân thật." (TH/ KTHGD  V, 60)
 

 Để xây dựng một quan hệ hài hòa :
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II dạy : " Vì thế, Ta qủa quyết rằng một Đức Tin không trở thành văn hóa là một Đức Tin không được tiếp nhận đầy đủ, không được suy nghĩ thấu đáo, không được sống một cách trung tín." Và "Công Đồng khuyến khích người Kitô hữu, công dân của nước trần thế và Nước Trời, nên chu toàn công tác trần thế của mình một cách nhiệt tình, trung tín, và vâng theo sự hướng dần của tinh thần Phúc âm. Những ai, từng biết rằng mình không có được nước vĩnh cửu dưới trần thế này, nhưng đang tiến về vương quốc tương lai, lại cho rằng có thể coi thường những nghĩa vụ làm người của mình, và không nhân ra rằng chính Đức Tin, tùy vào ơn gọi của mỗi người làm cho những nghĩa vụ đó trở thành một bổn phận khẩn thiết" (TH/KTHGD V, 59).  Để xây dựng một quan hệ tốt đẹp và ích lợi giữa cá nhân, gia đình và xã hội, Giáo Hội đã đưa ra một vài hướng dẫn :
 

 Nguyên tắc hỗ trợ : Thiên Chúa đã không dành cho mình mọi quyền bính, nhưng Ngài đã trao phó cho mỗi tạo vật những chức năng phù hợp. Cũng vậy, trong đời sống xã hội, một cộng đoàn lớn không thể can thiệp vào nội bộ một cộng đoàn nhỏ nhằm tước đoạt chức năng của nó ; nhưng phải nâng đỡ và cùng hoạt động để mang lại công ích. Quan hệ hỗ tương đòi buộc sự liên đới trách nhiệm và quyền lợi từ 2 phía: gia đình và xã hội.

Lời mời gọi hoán cải : Sống giữa xã hội, người Kitô hữu dễ dàng bị cuốn vào cơn lốc những trào lưu xã hội (cả tốt và xấu). Vì thế mà phải hoán cải, một sự hoán cải sâu xa trong tâm hồn và thường xuyên. Đồng thời, sự hoán cải ấy thúc đẩy con người can đảm cải thiện môi trường sống khi nó dẫn con người đến tội lỗi ("Phải có sự đổi mới tâm thức và những thay đổi sâu rộng trong xã hội" - MV 26). Khi ĐGH Gioan Phaolô II đề xuất khẩu hiệu "sám hối - canh tân" và thực hiện một cách rất sinh động và hiệu quả trong suốt triều đại của ngài, thì đó chính là ngài - bằng hành động cụ thể -  kêu mời mọi Kitô hữu (và thậm chí, cả nhân loại) cùng hoán cải bản thân + gia đình để đi đến hoán cải cả Giáo hội và xã hội trần thế, đi lần tới hiệp nhất trong Chân-Thiện-Mỹ. Trong thực tế, nhiều khi khó nhận ra được đâu là con đường phải đi, và phải có rất nhiều can đảm để dám đi con đường của Đức Ái, của Tình Thương và sự hiến thân. Vì thế, cần cầu nguyện để đón nhận ơn Thiên Chúa nâng đỡ.

Có được như vậy, quan hệ hài hoà giữa gia đình và xã hội sẽ được nâng lên, và trở thành  phẩm giá cao quý của con người.

 


V. KẾT LUẬN

Tóm lại, con người được Thiên Chúa dựng nên, ngay từ  khởi đầu đã có Tình Yêu Thiên Chúa tạo nên một mối dây liên hệ mật thiết gắn bó các cá thể thành một cộng đồng, đó là gia đình ; rồi từ gia đình phát triển thành xã hội. Cho nên mối tương quan giữa con người - gia đình - xã hội là không thể phủ nhận. Đó là quan hệ hỗ tương không thể tách rời : con người có bổn phận xây dựng gia đình và xã hội, thì xã hội cũng có trách nhiệm bảo bọc, chăm lo cho gia đình và từng cá nhân. Cũng cần phải nhấn mạnh ở đây là nền nhân bản học Kitô giáo không chấp nhận những thành phần dân Chúa sống biệt lập với xã hội, coi xã hội như một thứ xa xỉ phẩm không ăn nhập tới bản thân mình. Kitô giáo là một  tôn giáo nhập thế, đem Đạo vào đời, sống "vui với người vui, khóc với kẻ u sâu", "buồn trước cái buồn của anh em, vui sau cái vui của anh em". Kitô giáo sống hiệp thông không chỉ trong lòng Giáo hội mà sống hiệp thông cùng với toàn thể xã hội loài người, không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo, giai cấp hay thành phần... Cần phải làm sao cho mọi Kitô hữu ý thức được sự liên đới trách nhiệm và quyền lợi với tất cả mọi thành phần xã hội, để từ đó xây dựng mối liên kết chặt chẽ trong yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, xoá bỏ hẳn mọi tị hiềm, thù oán.Vì vậy anh chị em Phan Sinh Tại Thế chúng ta cần phải học tập,trau dồi và củng cố nền NHÂN BẢN KI TÔ GIÁO của minh mỗi ngày hoàn thiện hơn như lòng Chúa mong ước

                                  Tài Liệu Huấn Luyện