LINH ĐẠO DÒNG PHAN SINH TẠI THẾ (OFS) SỐNG PHÚC ÂM ĐỨC GIÊSU KITÔ-ĐI TỪ PHÚC ÂM ĐẾN CUỘC SỐNG-VÀ TỪ CUỘC SỐNG ĐỀN PHÚC ÂM

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

CUỘC ĐỜI MẸ MARIA (PHẦN I VÀ II )

Lược chuyện cuộc đời Đức Mẹ
(Theo Bà Đáng Kính Maria Agrêđa Mẹ Bề Trên Dòng Thánh Nữ Clara)
Imprimatur :
Ninh Phú, die 1 Octobris 1882
+ Paulus Fr. Episc Mauricastrensis
Vic. Apost. Tunquini Occidentalis
Cha H. Azemar dịch theo lời Đức Mẹ truyền cho Bà Maria D'Agreda.
In tại Địa Phận Tây Đàng Ngoài
Lái Thiêu tháng 5 năm 1882.

1. Lời mở đầu:
Lược chuyện Cuộc đời Đức Mẹ là bản tóm lược những chi tiết quan trọng về câu chuyện ký sự của Đức Mẹ đã được Mẹ đáng kính Bề Trên Dòng thánh nữ Clara viết lại theo sự mạc khải của Đức Mẹ, vì cuộc đời Đức Mẹ kể như bị che khuất quá nhiều. Ngay cả Phúc Âm cũng nói rất ít về Mẹ. Ngoài một vài chi tiết quá gọn ghẽ, ít ỏi, liên quan đến cuộc đời Chúa Giêsu. Còn việc sinh ra bao giờ và ly trần cách nào cũng không được biết, giữa lúc con cái Mẹ luôn khát khao được biết về cuộc đời của Mẹ, để mến yêu Mẹ hơn.

Vì thế vào thế kỷ thứ 17, Mẹ đã được Thiên Chúa cho phép tỏ tất cả cuộc đời của Mẹ trong một cuộc mạc khải tư, cho bà đáng kính Maria Agrêđa thuộc đan viện Dòng thánh nữ Clara để bà viết lại cho mọi người được biết.

3. Bà đáng kính Maria Agrêda:
Sinh ngày 2 tháng 4 năm 1602 tại thị trấn Agrêda nước Tây Ban Nha. Ông thân sinh là Phanxicô Coronel và bà Catarina Arana, cả hai cùng thuộc dòng quí tộc. Hai ông bà sinh được 11 người con, nhưng 7 người đã mất sớm. Về sau, cả gia đình đều dâng mình cho Chúa: Cha và hai con trai vào Dòng Anh Em Hèn Mọn. Mẹ và hai con gái biến nhà mình thành một đan viện theo luật Dòng Thánh Nữ Clara.

Maria Agrêđa từ nhỏ đã sống tốt lành như một thiên thần. Từ lúc 11 tuổi bà đã được hưởng nhiều ơn lạ siêu nhiên. Năm 25 tuổi bà được đặt làm bề trên đan viện mới lập tại nhà mình. Bà không dám nhận, nhưng Đức Mẹ đã hiện đến an ủi và Đức Mẹ tự nhận làm bề trên thay cho bà. Từ đó, Mẹ ban nhiều ơn cho bà và tỏ cho bà biết tất cả các mầu nhiệm về cuộc đời của Mẹ. Mẹ đã dục bà viết lại những gì bà đã thấy về cuộc đời Mẹ, nhưng bà thấy mình dốt nát không dám viết. Năm 1637 bà đã vâng lời Đức Mẹ và các bề trên để viết ra. Viết xong chuyện được tâu lên Hoàng Đế Philip thứ IV, ngài là vị vua rất đạo đức nên đã đặt bà làm cố vấn qua các thư tín. Nhà vua cho sao lại một bản và trả lại bản chính cho bà. Bản chính này đã được đốt đi cùng với nhiều bút tích khác theo lệnh cha giải tội đến hướng dẫn bà thay cho cha giải tội thường xuyên của bà và các bề trên lại ra lệnh cho bà phải viết lại. Vâng lời bề trên bà làm công việc này thật cam gô đến nỗi chính Chúa Giêsu và Mẹ Maria phải đích thân hiện đến can thiệp. Ngày mùng 6 tháng 5 năm 1660, bà viết xong hạnh tích Mẹ Maria lần thứ hai. Bà đặt tên là La Mistica Ciudad De Dios: Thần Đô Huyền Nhiệm. Bà đệ lên bề trên để thẩm xét.
Năm năm sau, ngày 24 tháng 5 năm 1665, bà từ trần, thọ 63 tuổi. Bà đã được Giáo Hội tôn phong lên bậc Đáng Kính. Sách được phát hành năm 1670. Tuy có đôi lần bị cấm đoán (năm 1680, 1704) nhưng đến thời Đức Giáo Hoàng Piô 12, ngày 11 tháng 10 năm 1954 lại xác nhận sách có giá trị về tu đức và giáo hóa.

4. Maria trong ơn tiền định:
Ngay trong bóng tối dày đặc của tội lỗi, Thiên Chúa xét đã tới lúc thắp sáng ngọn đuốc rất sáng, báo tin mặt trời công chính sẽ mọc. Hai ngọn đuốc đó là Thánh Gioakim và Thánh Nữ Anna.

Gioakim sinh trưởng tại Nazareth, Ngài là người nhu mì, trong sạch, đầy nhiệt tâm và Thánh thiện. Được ánh sáng siêu nhiên soi chiếu, Ngài thâm hiểu mầu nhiệm trong Thánh Kinh. Ngài thiết tha liên lỉ nài xin Thiên Chúa cho Đấng Cứu Thế đã hứa mau đến.

Thánh Nữ Anna sinh trú tại Belem, từ nhỏ bà đã có một đức thanh tịnh, đức khiêm nhu, một nền đạo đức và một vẻ đẹp hoàn toàn xuất chúng. Đức tin, đức cậy, đức mến của bà thật vô song. Vì thế bà được kể vào số những vị cao niên nhất trong các thánh thời Cựu Ước. Bà sống đời chiêm niệm tuyệt vời. Bà không ngừng cầu xin cho bà một người bạn trăm năm tốt lành để cùng phụng sự Chúa. Thiên Chúa đã duyên kết Gioakim và Anna nên một và quyết định cho các ngài sinh ra Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể.

5. Maria được tác sinh:
Chúa tỏ thánh lệnh ấy cho các Thiên Thần, các Ngài liền ca vang chúc tụng Mẹ Thiên Chúa. Và để thi hành thánh lệnh ấy, Tổng Thần Gabriel được trao sứ mệnh đến báo tin cho hai vị thánh đang cư ngụ tại Nazareth, để báo tin ông bà sẽ sinh một người con và đặt tên là Maria. Niềm vui tràn ngập tâm hồn, Cả hai ông bà đều sung sướng lên đền thờ tạ ơn Thiên Chúa. Thiên Chúa đặc biệt đổ tràn những ân huệ cao quí nhất cho bà Anna, để chuẩn bị cho Maria một người mẹ hết niềm tôn kính, yêu mến và tán tụng xứng với Mẹ của Con Chúa Chí Thánh sau này.

6.Maria vô nhiểm từ đầu thai
Theo cách nói của loài người thì khi mọi sự đã sẵn sàng, Thiên Chúa đã thực hiện việc sáng tạo Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể, một người Mẹ đầy kỳ công do quyền năng vô song của Thiên Chúa, một người nữ thánh thiện tràn trề sự trọn lành mà quỉ hỏa ngục cũng không thể làm gì được.

Xác thể Đức Mẹ được hình thành vào ngày Chúa Nhật, tương ứng với ngày đầu tiên trong cuộc sáng tạo. Thể xác Mẹ tiếp nhận đầy ân sủng, nên rất trọn vẹn và rất siêu nhiên, đến nỗi không một thể xác con người nào được toàn vẹn đến thế. Ngày Thứ Bảy kế tiếp đó, là ngày chung kết việc tạo dựng, Thiên Chúa tạo nên linh hồn Đức Mẹ. Thiên Chúa Ba Ngôi đã nói: "Ta sáng tạo Maria giống hình ảnh Ta và làm cho Maria nên Nữ Tỳ, nên Hiền Thê thật của Ta, để Maria xứng đáng làm Mẹ Con duy nhất của Cha Hằng Hữu". Lúc đó Thánh nữ Anna chìm sâu vào cơn xuất thần tuyệt vời. Bà tiếp nhận ánh sáng linh động, hiểu được mầu nhiệm rất sâu xa. Phần Maria, Mẹ được hưởng ơn nhìn thấy Thần Tính Thiên Chúa, một thị kiến cao hơn tất cả các thị kiến, các mạc khải các Thánh được, chỉ trừ có phúc thấy Chúa trên thiên đàng.

Maria vì thế không những không có tội nguyên tổ, mà linh hồn Mẹ còn rực rỡ với nguồn ơn cao cả, mà Thiên Chúa ban riêng cho tới mức độ tuyệt vời, đến nỗi hết các nhân đức của các bậc thần thánh hợp lại cũng không sánh bằng. Trí năng và linh hồn của Mẹ hầu như vô cùng. Mẹ thấu hiểu hết các mầu nhiệm về Chúa Ba Ngôi, về ơn nhập thể và cứu chuộc, về mọi sự siêu nhiên và tự nhiên. Tâm hồn Mẹ được trang điểm bằng những ơn Thánh Linh và các nhân đức tới mức độ hoàn toàn lạ lùng.
                                   PHẦN 2


7. Quãng đời thai nhi:

Mẹ được nhìn thấy Thiên Chúa cách thiêng liêng từ khi đầu thai, nên Mẹ đã chiêm ngắm Hữu Thể Thiên Chúa cách tỏ tường, và tâm hồn Mẹ cháy lên niềm mến yêu Thiên Chúa. Mẹ không hề ngừng thờ lạy Thiên Chúa.

Vào áp ngày sinh ra, Thiên Chúa đã cho Mẹ biết đã đến lúc xuất hiện trên trần gian. Mẹ hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa và thưa rằng: "Lạy Chúa uy linh cao cả, chủ quyền tuyệt đối trên con, con chỉ là hư vô Chúa làm cho nên hiện hữu, đã cho con đầy ân sủng, Chúa cho con sinh ra và cư ngụ giữa loài người, xin cho con được trọn ý Chúa."

Về phần thân mẫu Mẹ, Chúa cũng cho bà được nên người thiêng liêng hoàn toàn, nhưng cũng để cho bà chịu một ít phiền não, để che mắt bọn quỉ Satan, để chúng không thể biết được kho tàng bà đang cưu mang trong lòng. Các Thiên Thần cũng gìn giữ bà và giúp bà bình thản chờ đợi giờ hạnh phúc được nhìn ngắm người con chí ái chào đời.

8. Sinh vào trần thế:
Đến ngày 8 tháng 9, bà Anna biết mình sắp sinh ái nữ, bà sấp mình cầu xin Chúa chúc lành cho mình. Bà được ơn gìn giữ khỏi những cơn đau thông thường nơi các bà mẹ sinh con, nên bà dâng lời cảm tạ Thiên Chúa. Các Thiên Thần hầu cận Mẹ hát lên những khúc ca thiên đàng. Mẹ xinh đẹp nằm gọn trên tay thân mẫu mình. Mẹ xin các Thiên Thần ca tụng Chúa với Mẹ và nhân danh Mẹ. Tổng Thần Gabriel được sai đến ngục Tổ Tông, để báo cho các Thánh tin Mẹ Chúa Cứu Thế đã sinh ra, một tin mừng làm cho các ngài hoan hỷ và tri ân vô ngần.

Thiên Chúa lại sai các Thiên Thần rước Mẹ về trời, trước ngai uy linh Thiên Chúa, Mẹ sấp mình thờ lạy Thiên Chúa Ba Ngôi. Ngôi Lời nâng Mẹ dậy và đặt ngồi bên hữu mình. Mẹ lãnh nhận nhiều mạc khải mới và lòng Mẹ bừng lên niềm vinh quang. Mẹ xin Chúa mau thi hành ơn nhập thể để cứu độ trần gian. Thiên Chúa đoan quyết với Mẹ là sắp được thực hiện. Thiên Chúa còn cho các Thiên Thần biết, Chúa rất hài lòng về danh hiệu Maria và Giêsu mà từ ngàn đời Ngài đã thỏa lòng.

Tám ngày sau, cha mẹ đặt tên cho con trẻ là Maria, tên mà Thiên Chúa đã dành cho Mẹ. Các Thiên Thần ca lên những khúc hát tuyệt vời mà chỉ hai mẹ con bà Anna được thưởng thức.

9. Cuộc sống ba năm đầu:
Theo luật Lêvi, 60 ngày con gái mới sinh phải đem vào đền thờ dâng cho Chúa như lời bà đã hứa, với của lễ là một con chiên một tuổi và một con chim gáy. Thân mẫu Anna vâng theo lề luật dạy đã sung sướng dâng Mẹ cho Thiên Chúa, người con mà Chúa đã ban cho bà.

Nhìn đền thờ uy nghiêm, Mẹ muốn hôn kính đền thờ rồi tự tâm hồn Mẹ cầu nguyện: "Lạy Thiên Chúa đáng muôn loài chúc tụng, trong đền thờ này, con tán dương Chúa và cảm tạ lòng khoan dung Chúa, đã ban cho con hạnh phúc nhìn thấy đền thờ nơi Cha Ông con đã từng tôn kính Chúa. Xin đoái thương nhận con vào, hầu con được phụng sự Chúa tại đây".

Khi nhìn thấy những việc lạ lùng, Luxiphe muốn hiểu ra bí mật, nhưng Thiên Chúa đã dấu kín, chỉ cho biết những việc bề ngoài, để chúng yên lòng, mặc dầu hai mẹ con có thánh thiện hơn những người khác. Khi các nghi lễ đã xong, hai mẹ con hoan hỉ trở về Nazareth. Ở đây, Mẹ được nuôi dưỡng như các trẻ đương thời. Mẹ rất ngoan và gây nhiều thiện cảm, nhưng cũng rất oai nghi buộc ai đến gần phải tôn kính. Mẹ cũng hay khóc nhưng là khóc thương tội lỗi trần gian và nài xin Đấng Cứu Chuộc mau đến. Nơi Mẹ không có chút gì là con nít, nhưng Mẹ cũng để cho thân mẫu nựng chiều. Mẹ liên lỉ cầu nguyện cùng Chúa, dù cả trong giấc ngủ cũng không gián đoạn, vì trí năng có thể hoạt động không cần giác quan giúp đỡ.

Với song thân, Mẹ tỏ hết tâm tình của một người con. Đôi khi Mẹ cầm tay cha mẹ mà hôn kính, trân trọng thiệt tình. Suốt đời Mẹ cư xử như thế, không bao giờ tỏ ra một chút bất bình.

Tuổi thơ của Mẹ cứ thế qua đi trong những cuộc truyện vãn thánh thiện hoặc với các Thiên Thần hoặc với chính Thiên Chúa. Những đặc ân ấy không hề làm cho Mẹ kiêu căng, song lại tăng thêm đức khiêm nhường của Mẹ. Mẹ tin thật Mẹ là cuối rốt trong mọi loài thụ tạo, mặc dù Mẹ là Nữ Vương, là Chủ Mẫu vũ trụ.

Sau 18 tháng Mẹ mới bắt đầu nói. Trước khi nói với loài người, Mẹ được Thiên Chúa dạy cho cầu nguyện mỗi ngày nhiều lần, để Con Chúa mau nhập thể. Mẹ cũng nói với song thân và cám ơn các ngài đã cho Mẹ một thân xác sống giữa trần ai. Ông bà rất sung sướng khi thấy con cất tiếng lần đầu và thấy những bước đầu tiên Mẹ đi một mình.

Trong 18 tháng kế tiếp, nghĩa là cho tới khi Mẹ lên 3 tuổi, Mẹ nói rất ít. Mẹ khôn ngoan vượt trên các con cháu Adong, nhưng khi đó Mẹ lại rất khiêm tốn, ngoan ngoãn hỏi han thân mẫu nhiều điều để học hỏi. Mẹ thích làm những việc thấp hèn nhất trong nhà, nhưng chẳng ai nỡ để Mẹ làm. Vì thế, lúc có một mình Mẹ cố gắng ra sức làm việc. Vì sức Mẹ chưa làm nổi nên các Thiên Thần thường giúp Mẹ làm để Mẹ thỏa chí và thêm phần thưởng khiêm nhu.

Khi đã trọn hai tuổi, Mẹ bắt đầu thi hành việc bác ái với người nghèo. Mẹ xin thân mẫu cho của này vật nọ để đem đi bố thí. Mẹ thường nói trong lòng: "Tôi không đáng có thì lại có, nên tôi mắc nợ người anh em này vì họ không có gì".

Thời gian trôi qua, Mẹ cảm thấy hạnh phúc vì khám phá ra nơi mình nhiều điều kỳ diệu Chúa thương ban cho, còn thân mẫu Anna thì đau lòng khi nghĩ đến ngày sắp phải lìa con theo lời đã hứa. Bà buồn có thể đến chết đi được, nếu Chúa không giúp sức cho. Vì thế 6 tháng trước khi chẵn ba tuổi, Mẹ đã năng nhắc đến để chuẩn bị tâm hồn thân mẫu cho ngày biệt ly và giúp bà nguôi buồn.

Ít ngày trước khi trọn 3 tuổi, Mẹ được Chúa tỏ cho xem thấy Ngài trong một lần thị kiến, Ngài cho Mẹ biết đã gần đến giờ Mẹ được tận hiến cho Ngài trong đền thờ. Lòng đầy hoan hỉ và tri ân, Mẹ thưa lên: "Lạy Chúa cao cả của Tổ Phụ con, tự con chẳng xứng đáng, nhưng Chúa đã vô cùng nhân từ nhìn đến một nữ tì thấp hèn ti tiện này. Bởi đâu con được ơn trọng, là được nhận vào nhà Chúa để phụng sự Chúa, trong khi con chỉ đáng bỏ quên trong một xó rất khốn nạn trên trần gian. Chúa thương ban cho con vinh dự này, thì xin Chúa hướng lòng cha mẹ con thực thi ý Chúa".

Nhận lời Mẹ xin, Chúa đã soi sáng cho song thân Mẹ thực hiện lời hứa và thêm ơn can đảm để ông bà bớt đau đớn khi phải lìa biệt Mẹ, một niềm an ủi dịu ngọt trong lúc tuổi già.

10. Dâng con trong đền thờ:
Trong ý định của Thiên Chúa, Chúa đã quan phòng cho Mẹ một cách khôn khéo là không để cho mấy ai biết đến Mẹ là Mẹ Thiên Chúa khi còn tại thế. Bởi thế, trước mặt người đời việc Mẹ dâng mình trong đền thờ chẳng có gì đáng trọng, đáng chú ý.

Song thân từ Nazareth đưa Mẹ lên đền thờ Giêrusalem với mấy người thân thuộc đơn sơ, không ồn ào, không long trọng, nhưng có đoàn Thiên Thần hộ tống theo hầu. Các Ngài vừa đi vừa hát những khúc ca tán tụng Thiên Chúa, nhưng chỉ mình Mẹ nhìn thấy và nghe thấy tiếng các Ngài hát. Trên quãng đường dài, song thân của Mẹ cũng được hưởng một nguồn an ủi thiêng liêng tràn ngập.

Khi tới đền thờ, các ngài cầm tay Mẹ dẫn vào nội điện. Cả ba cùng sốt sáng cầu nguyện, rồi ông bà hiến dâng Mẹ cho Thiên Chúa. Mẹ cũng tự hiến dâng trọn vẹn mình dứt khoát cho Ngài. Trong ánh sáng huy hoàng tràn ngập đền thờ, Mẹ nghe thấy rõ tiếng Thiên Chúa ưng nhận lễ vật là chính toàn thân Mẹ. Sau khi cầu nguyện, hai ông bà dẫn Mẹ đến giới thiệu với vị Tư Tế. Ngài chúc lành cho Mẹ rồi tất cả đưa Mẹ tới khu nhà giáo dục dành cho nữ giới. Mẹ được các vị Tư Tế ra cầu thang 15 bậc đón Mẹ vào. Vị hướng dẫn Mẹ là một vị Tư Tế có phẩm trật thấp nhất. Ông đặt Mẹ lên bậc cầu thang thứ nhất. Mẹ quay lại qùi xuống, cúi đầu bái tạ song thân và xin cha mẹ ban phép lành. Cha mẹ bùi ngùi nhỏ lệ chúc lành cho Mẹ, sau đó một mình Mẹ quả quyết bước lên bậc thang không quay lại, không rơi lệ, không tỏ cử chỉ ấu trĩ nào, không phàn nàn vì phải rời xa cha mẹ. Trái lại dung mạo Mẹ đều tỏ cử chỉ vui mừng, uy nghi, dịu dàng, làm mọi người sững sờ thán phục. Thượng Tế Simêon đón Mẹ ở đầu nấc thang và trao cho các cô đạo đức việc đào tạo Mẹ. Bà Tiên Tri Anna được Chúa soi dẫn và chỉ định coi sóc Mẹ. Bà thật đức hạnh và thánh thiện, xứng đáng là một mẫu sư trong đền thờ. Ông Simêon không biết gì về mầu nhiệm dấu kín nơi Mẹ cả. Ông chỉ được soi cho biết Mẹ là một nữ nhi thánh thiện thôi. Sống trong đền thờ Mẹ được bà giáo tận tình hướng dẫn, săn sóc và giáo hóa. Mẹ cũng được Chúa tỏ cho rất nhiều ân huệ cao vời. Mẹ tạ ơn Chúa và khấn giữ bốn lời khấn: Khiết tịnh, Thanh bần, Vâng lời và nội vi ở trong đền thờ. Nhưng Chúa chỉ cho phép Mẹ thực hiện hết khả năng tùy hoàn cảnh thôi, ngoại trừ đức Khiết tịnh thì Chúa chấp nhận. Suốt cuộc đời Mẹ giữ tỉ mỉ, nhiệt thành, trung tín chu toàn mọi quyết định.

Hội ý với Thượng Tế Simêon, bà Anna vạch cho Mẹ một luật sống. Mẹ đã xin Chúa cho Mẹ được ơn siêu thoát khỏi mọi thụ tạo và cả chính mình để chỉ sống trong tình yêu Chúa, nên Mẹ rất hân hoan đón nhận sự chỉ dạy của mẫu sư Anna. Luật đó là phải hết lòng phụng sự Chúa và ham mê thực hành các nhân đức và mau mắn tuân phục. Mẹ cúi đầu vâng ý Thầy Thượng Tế và bà giáo Anna.

Từ đó Mẹ hòa mình vào nếp sống với chị em, mặc dù quan điểm của Mẹ cao vượt hơn. Mẹ biết rằng vâng phục không lý luận bao giờ cũng tốt hơn theo tư kiến, dù là tư kiến tốt, vì Chúa đã sống và dạy các ngài làm. Bà Anna cũng vạch cho Mẹ một chương trình sống, là hết sức nhiệt thành tham dự các giờ tán dương Thiên Chúa, cầu nguyện cho đền thờ và dân riêng của Chúa, cho Đấng Cứu Chuộc mau đến. Buổi tối đi ngủ lúc 8 giờ. Sáng thức dậy sớm cầu nguyện đến 9 giờ. Từ đó tới chiều làm việc thủ công và đọc sách. Mẹ cũng rất tiết độ khi ăn khi ngủ. Mẹ dùng thì giờ rất khéo và khít khao. Thời giờ Mẹ dùng nhiều nhất là đọc và học Thánh Kinh. Mẹ am tường ý nghĩa nhập thể, nhờ có trí thức Chúa ban dư tràn đến nỗi có thể giải thích về mầu nhiệm ấy với các Thiên Thần. Mẹ hiểu hết nhưng bề ngoài Mẹ vẫn học hỏi như không biết gì. Mẹ lớn dần về tuổi và ân sủng trước mặt Chúa và loài người. Mẹ cũng rất khiêm nhường không bao giờ tỏ cho loài người biết những ơn lạ lùng Mẹ được. Mẹ giữ kín đáo các ơn ấy.

11. Những thử thách trong đền thờ:
Để đón nhận được những đau khổ mà nên hoàn thiện, Mẹ đã thật quả cảm, cái quả cảm vượt trên cả các Thánh Tử Đạo chỉ vì mến Chúa. Cơn đau khổ đầu tiên Chúa dành cho Mẹ, là Chúa cho Mẹ biết thân phụ Mẹ đã đến ngày mãn phần. Ngài sẽ xuống ngục Tổ Tông cùng với các thánh khác.

Nỗi phần đau khổ hơn thế nữa, là Chúa không cho Mẹ thấy Ngài và cả các Thiên Thần nữa. Mẹ rơi vào đêm tối tăm và lòng Mẹ phiền não, cay đắng vì khuất mặt Chúa. Mẹ cũng than thở với các Thiên Thần và các thụ tạo nữa. Thực thế không thể có nỗi khổ nào sánh bằng nỗi đau khổ Mẹ phải chịu. Chưa hết, Chúa quan phòng còn chuẩn bị cho Mẹ mạnh mẽ hơn nữa để chiến thắng mặt trận do rắn xà hỏa ngục bày ra: Dâm dật, giả hình, kiêu ngạo, ghen ghét.... và mọi hình thức nó cám dỗ loài người nó dành đổ vào Mẹ. Nhưng Mẹ cũng cứ một mực cậy trông vào sự che chở của Chúa.

Ma quỷ cũng nhóm lên trong lòng các chị em đồng tu ngọn lửa căm hờn, ganh ghét, hành hạ, buông những lời nặng nhẹ chê bai, xoi mói, xỉa xói chua cay và buộc tội Mẹ để gây xáo trộn là kẻ giả hình, đưa điều, báo cáo, ton hót với Bề Trên và coi Mẹ như một con quỷ con. Phần Mẹ đối với họ vẫn nhu mì thực hiện đức ái tới mức anh hùng lạ thường, lấy ơn trả oán, chúc phúc thay nguyền rủa, cầu nguyện thay xỉ báng, yêu thương thay hận thù. Công đức Mẹ lập khi đó vượt xa trên công đức của các Luyến Thần nồng mến nhất. Điều đau khổ nhất phải nói là vắng mặt Chúa 8 ngày trước khi thân phụ Mẹ giã thế đứa con 3 tuổi rưỡi, cho tới khi Mẹ lên 12 tuổi, tức là tới khi thân mẫu của Mẹ qua đời, tính ra là 10 năm.

XEM TIẾP CUỘC ĐỜI MẸ MARIA . Phần 3 và 4


CHỨC TƯ TẾ CỦA GIÁO DÂN


 Theo giáo lý của Giáo Hội Công Giáo khi chịu phép rửa tội , người được rửa tội cũng được xức dầu thánh  để lãnh nhận ơn riêng của Chúa Thánh Thần, nhờ đó “ trở thành một Kitôhữu”, nghĩa là được xức dầu, gia nhập vào Thân Thể Chúa Kitô là Đấng đã được xức dầu để làm tư tế, ngôn sứ và vương đế.(x. SGLGHCG, số 1241).

Qua bí tích Rửa Tội, người tín hữu được tái sinh trong sự sống mới và được “ mặc lấy Chúa Kitô” như Thánh Phaolô dạy. ( x.Gl 3,27).
 Cũng qua Phép Rửa, người tín hữu được tham dự vào chức tư tế, ngôn sứ và địa vị vương đế của Chúa Kitô như Giáo Hội dạy.

 Chính vì vinh phúc lớn lao này mà xưa kia các Thánh Giáo Phụ đã gọi các tín hữu Chúa Kitô, tức những người đã được tái sinh nhờ Phép Rửa là những “Đức Kitô thứ hai.Từ ngữ này về sau cũng được dùng để chỉ các tư tế có chức thánh như Giám Mục và Linh Mục.

Khi nói đến người tín hữu giáo dân là nói đến một thành phần Dân Chúa đông đảo nhất trong Giáo Hội không thuộc về hàng giáo sĩ .hay tu sĩ  như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã định nghĩa trong Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium. ( LG. no.31). Sự phân chia ra ba thành phần này không nhằm nói lên phẩm giá của ai cao hơn ai, hay vai trò nào quan trọng hơn vai trò nào mà chỉ muốn nói lên đặc tính hay chức năng của mỗi ơn gọi .

Thánh Phaolô đã cắt nghĩa sự khác biệt trong ơn gọi và vai trò của các thành phần Dân Chúa như sau : “ cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy : tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Chúa Kitô, mỗi người liên đới với người khác như những bộ phận của một thân thể.” ( Rm 12: 4-5).

Nghĩa là giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân chỉ là những bộ phận khác nhau của cùng một Nhiệm thể Chúa Kitô là Giáo Hội. Khác nhau về chức năng nhưng đều quan trọng và cần thiết cho sự hoạt động và sống còn của Nhiệm thể.

Khi nói đến chức tư tế là nói đến Chức Linh Mục duy nhất của Chúa Kitô, Vị Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê ( Dt 5: 10 ) .Nghĩa là chỉ có Chúa Kitô là Thầy Cả hay Linh Mục Thượng Phẩm duy nhất đã dâng Hy Tế đền tội thay cho nhân loại một lần xưa trên thập giá. Khi đó, Người vừa là Bàn Thờ, vừa là Của Lễ và là Linh Mục.

Chúa Kitô vẫn tiếp tục dâng Hy Tế này cách bí nhiệm qua tác vụ của Giáo Hội, cụ thể qua thừa tác vụ  của các giáo sĩ có chức thánh như Giám mục và Linh Mục, là những người nhờ Bí tích truyền chức thánh mà được phép nhân danh Chúa Kitô  để “làm vịệc này mà nhớ đến Thầy” tức cử hành Thánh lễ Tạ Ơn  hàng ngày ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội.

Đây là chức tư tế của hàng giáo sĩ phẩm trật hay thừa tác xuất phát từ bí tích truyền chức thánh.

 Ngược lại, chức tư tế chung của mọi Kitô hữu hay giáo dân là chức phát sinh từ bí tích Rửa tội và Thêm sức, chứ không từ bí tích truyền chức thánh.

Vì thế, giáo dân không được phép cử hành các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Chỉ trừ trường hợp nguy tử, khi không tìm được các thừa tác viên có chức thánh (Giám mục, Linh mục, Phó tế) giáo dân mới được phép cử hành bí tích Rửa tội
Sự khác biệt giữa hai chức tư tế của giáo sĩ và giáo dân được Giáo Hội nói rõ như sau :

Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật , tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn cả về yếu tính , song cả hai bổ túc cho nhau. Thực vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình. Tư tế thừa tác, nhờ có quyền do chức thánh đào tạo và cai quản dân tộc tư tế, đóng vai trò Chúa Kitô cử hành Hy tế tạ ơn và dâng của lễ ấy lên Thiên Chúa nhân danh toàn thể dân chúng.
 Phần tín hữu, nhờ chức tư tế vương giả, cộng tác dâng thánh lễ và thi hành chức vụ đó trong việc lãnh nhận các bí tích, khi cầu nguyện và tạ ơn, bằng đời sống chứng tá thánh thiện, bằng sự từ bỏ và bác ái tích cực.” ( x. LG, số 10).

Chức tư tế chung của người tín hữu chỉ cho phép mọi giáo hữu được hiệp thông với các tư tế thừa tác trong việc dâng đời sống của mình với mọi vui buồn, sướng khổ để kết hợp với Hy tế của Chúa Kitô dâng lên Thiên Chúa để xin ơn cứu chuộc cho mình và cho người khác trong Thánh lễ.

Ngoài ra, chức tư tế và ngôn sứ của người tín hữu cũng đòi hỏi mọi giáo hữu sống nhân chứng cho Chúa Kitô trước mặt người đời để góp phần mở mang Nước của Chúa Kitô là “ Nước của của chân lý và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, của công lý, tình yêu và hòa bình.” 

. Đây chính là địa vị vương giả mà người tín hữu được chia sẻ với Chúa Kitô nhờ Phép Rửa.
Tóm lại, chức tư tế của người tín hữu hay giáo dân hoàn toàn khác với chức tư tế của hàng giáo sĩ thừa tác ( Giám mục, Linh mục) như đã nói ở trên.Tuy nhiên sự khác biệt này không có nghĩa là ai cao trọng hơn ai, mà chỉ nói lên sự khác nhau về chức năng để chu toàn các nhiệm vụ theo ơn gọi riêng của mỗi bậc sống

Điều quan trọng là mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội, -giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân - tất cả đều được mời gọi để nên thánh và có trách nhiệm loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho mọi người, mọi dân tộc trên toàn thế giới . Vai trò khác nhau chỉ nói lên bổn phận khác nhau phải chu toàn 

Vậy đừng ai dựa vào phàm nhân mà tự hào, vì tất cả đều thuộc về anh em mà anh em thuộc về Chúa Kitô và Chúa Kitô thuộc về Thiên Chúa.” ( 1 Cor 3: 21,23).

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

LỜI CHÚA VÀ THÁNH THỄ LÀM CHO CHÚNG TA TRÀN ĐẦY NIỀM VUI

 Lời Đức Thánh Cha Phanxicô
Lời Chúa và Thánh Thể luôn luôn làm cho chúng ta tràn đầy niềm vui Xin anh chị em nhớ kỹ điều đó! Khi bạn buồn sầu, hãy đọc Lời chúa! Khi bạn nản lòng, hãy cầm lấy Lời Chúa, hãy đi tham dự thánh lễ Chúa Nhật và rước lễ và tham dự vào mầu nhiệm của Chúa Giêsu!

Đức Thánh Cha kể lại biến cố hai môn đệ buồn sầu chán nản bỏ Giệrsualem để về Emmaus, dọc đường họ gặp Chúa Kitô Phục sinh, nhưng không nhận ra Người.
Ðức Thánh Cha nói:
Khi trông thấy họ buồn sầu như thế, trước hết Người giúp họ hiểu rằng cuộc khổ nạn và cái chết của Ðấng Cứu Thế đã được thấy trước trong chương trình của Thiên chúa và được loan báo trước trong Thánh Kinh. Như thế Người đốt cháy lên một ngọn lửa hy vọng trong con tim họ. Khi đó hai môn đệ cảm thấy một sức thu hút ngoại thường nơi con người bí mật ấy và mời người ở lại với họ chiều hôm đó. Chúa Giệsu chấp nhận và cùng họ vào nhà. Và khi ngồi vào bàn Người làm phép và bẻ bánh, thì họ nhận ra Người, nhưng Người đã biến khỏi cái nhìn của họ, để họ lại đầy kinh ngạc. Sau khi được soi sáng bởi Lời Chúa, họ đã nhận ra Chúa Giêsu phục sinh trong việc bẻ bánh, dấu chỉ mới sự hiện diện của Người. Và ngay lập tức họ cảm thấy cần phải trở về Giêrusalem, để kể lại cho các môn đệ khác kinh nghiệm này của họ, rằng họ đã gặp Chúa Giêsu sống lại và đã nhận ra Người trong cử chỉ bẻ bánh.

Ðức Thánh Cha nói: Con đường về làng Emmaus như thế trở thành con đường lòng tin của chúng ta: Thánh Kinh và Thánh Thể là các yếu tố không thể thiếu được cho cuộc gặp gỡ với Chúa.


Ðức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:
Cả chúng ta nữa cũng thường đến với Thánh Lễ Chúa Nhật với các lo lắng khó khăn và thất vọng... Ðôi khi cuộc sống đã thương chúng ta và chúng ta ra đi buồn sầu hướng về "làng Emmaus" của chúng ta, quay lưng lại với chương trình của Thiên Chúa. Chúng ta rời xa Thiên Chúa. Nhưng Phung vụ Lời Chúa tiếp đón chúng ta: Chúa Giêsu giải thích Thánh Kinh cho chúng ta và tái thắp lên trong con tim chúng ta hơi ấm của đức tin và đức cậy, và trong việc rước lễ Người ban cho chúng ta sức mạnh. Lời Chúa, Thánh Thể: mỗi ngày hãy đọc một đoạn Phúc Âm, Xin anh chị em hãy nhớ kỹ điều này: mỗi ngày đọc một đoạn Phúc Âm và hãy rước lễ các ngày Chúa Nhật, hãy nhận lấy Chúa Giêsu. Ðã xảy ra như thế với các môn đệ làng Emmaus: họ đã lãnh nhận Lời Chúa, đã chia sẻ việc bẻ bánh, và từ những người buồn sầu và thất bại họ đã trở thành những người tươi vui. Anh chị em thân mến, Lời Chúa và Thánh Thể luôn luôn làm cho chúng ta tràn đầy niềm vui. Xin anh chị em nhớ kỹ điều đó! Khi bạn buồn sầu, hãy đọc Lời chúa! Khi bạn nản lòng, hãy đọc Lời Chúa, hãy đi tham dự thánh lễ Chúa Nhật và rước lễ, tham dự vào mầu nhiệm của Chúa Giêsu! Lời Chúa, Thánh Thể làm cho chúng ta tràn ngập niềm vui.


Nhờ lời bầu cử của Ðức Maria Rất Thánh .
Chúng ta hãy cầu nguyện để khi sống kinh nghiệm của các môn đệ làng Emmaus, đặc biệt trong thánh lễ ngày Chúa Nhật, mỗi một Kitô hữu tái khám phá ra ơn gặp gỡ biến đổi với Chúa Phục Sinh, là Ðấng luôn ở với chúng ta. Luôn có Lời Chúa định hướng cho chúng ta sau các lạc lối, và qua các mệt nhọc và thất vọng của chúng ta luôn có một Tấm Bánh được bẻ ra giúp chúng ta tiến tới trên con đường cuộc sống .


Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014

TINH THẦN KHÓ NGHÈO NGƯỜI PHAN SINH TẠI THẾ


Chúa Giêsu qua cái chết đau thương trên thập giá vì tội lỗi nhân loại và Lời Chúa qua bài giảng trên núi .Tám Mối Phúc là bản tóm tắt những giáo huấn mà Chúa Giêsu mặc khải cho Dân Người ( Mt 5,1-15 ) là một minh chứng . Người thực sự là của những người nghèo hèn đói khổ

Vì thế, sự dấn thân của Chúa Giêsu, đã chi phối và thấm sâu vào đời sống đức tin và các sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày của tất cả các Kitô hữu, từ khởi đầu Giáo Hội cho tới ngày nay. Và một trong các tín hữu đã hiểu và tìm cách sống theo gương nghèo khó của Chúa Giêsu, chính là thánh Phanxicô thành Assisi. Và thánh nhân đã lấy cách sống nghèo của Chúa Giêsu ở Na-da-rét xưa làm chính cuộc sống hằng ngày của mình. Nói cách khác, ngài đã sống một cuộc sống nghèo đúng nghĩa như cuộc sống nghèo của Chúa ở Na-da-rét xưa, tức hoàn toàn vô sản, không chiếm giữ bất cứ điều gì làm của riêng, hằng ngày sống nhờ vào các của bố thí của bá tánh.

Thánh Phanxicô đã từng khẳng định:
“Đức nghèo khó làm cho tất cả tính tham lam của cải, tính hà tiện nhỏ nhoi và những lo lắng thế sự đời này phải bẽ mặt xấu hổ.” (8)

Phanxicô Assisi, vị sáng lập Dòng Anh Em Hèn Mọn-Dòng Clara-Dòng Phan sinh tại thế , trước hết đã cho thấy rằng „Bà Chúa Nghèo“ đối với ngài quan trọng như thế nào. Thánh nhân quan niệm đức khó nghèo, mà ngài đang ôm ấp theo đuổi, không thể đội trời chung với tính tham lam của cải đời này, tính hà tiện , keo kiệt và những lo toan thái quá về cuộc sống trần thế

Trong kinh „Lobpreis der Tugenden“ (Chúc tụng các nhân đức) do ngài biên soạn, thánh Phanxicô đã nhìn nhận tinh thần khó nghèo là một trong các nhân đức quan trọng nhất. ngoài tinh thần khó nghèo , còn có sự khôn ngoan, tính đơn sơ, tình yêu thương và tinh thần hòa nhã , lòng khiêm nhu nhẫn nhục, vì ngài cho rằng lòng khiêm nhu là khí giới sắc bén giúp ta chiến thắng tính cao ngạo. Ngài viết:
„Thái độ sống khiêm hạ nhu mì sẽ làm cho tính kiêu căng tự cao tự đại và tính ngạo mạn của thế gian phải bẽ bàng xấu hổ“.(9)
„Hỡi Bà Chúa Nghèo thánh thiện, Thiên Chúa gìn giữ Bà qua người chị Khiêm Nhu thánh thiện của Bà“(10)

Qua đó chúng ta thấy rằng, theo quan điểm thánh Phanxicô, đức khiêm nhu là điều kiện quan trọng giúp cho ta sống trọn vẹn cuộc sống nghèo khó theo tinh thần Phúc Âm. Thật vậy, nếu không biết khiêm tốn và nhẫn nhục chấp nhận định mệnh, người ta khó lòng nhìn thấy và chấp nhận được đức khó nghèo là một lý tưởng sống cao cả.
      Huy Hiệu Dòng Phan Sinh Tại Thế Việt Nam


Ở Việt Nam đặc biệt có những giáo dân Công Giáo cũng lập gia đình, sống và sinh hoạt bình thường như tất cả mọi tín hữu khác trong các Xứ Đạo, nhưng họ lại muốn sống theo tinh thần ba lời khấn dòng nói chung và tinh thần lời khấn khó nghèo của thánh Phanxicô nói riêng. .
Có lẽ đối với những người chưa quen biết tổ chức và đời sống của các Anh Chị Em Phan Sinh Tại Thế (tên mới ) hay Dòng Ba Phanxicô, sẽ rất ngạc nhiên và thắc mắc tự hỏi: Những người sống trong bậc vợ chồng thì làm sao còn có thể sống tinh thần ba lời khấn dòng được nữa? Đó là một thắc mắc rất hợp lý. Một điều chắc chắn không ai có thể phủ nhận được, đó là những người giáo dân sống bậc vợ chồng thì tất nhiên không thể sống ba lời khấn dòng một cách chặt chẽ như các Tu Sĩ nam nữ trong các Tu Viện được. Nhưng tinh thần ba lời khấn dòng ấy thì họ chẳng những hoàn toàn có thể sống và thực hành theo, mà còn là một điều phù hợp với thánh ý Chúa được biểu lộ rõ ràng trong Mười Điều Răn của Người.
 Tinh thần đức vâng lời: Để sống tinh thần đức vâng lời trong cuộc sống cụ thể hằng ngày, các Anh Chị Em Phan Sinh Tại Thế sẽ cùng với người bạn đời của mình, đã được Thiên Chúa liên kết qua Bí tích Hôn Nhân, họ ý thức được rằng họ – chồng cũng như vợ – không còn là hai nữa, nhưng đã trở thành một thân xác trong tình yêu thương chân thành. Vì thế, họ không còn tự ý quyết đoán hay định đoạt bất cứ điều gì trong cuộc sống riêng cũng như trong cuộc sống gia đình, nhưng họ cùng đem ra bàn bạc với nhau, cùng tham khảo ý kiến của nhau trong tình yêu thương và tôn trọng nhau chân thành, và cùng quyết định. Còn đối với con cái, họ không coi chúng như sở hữu của mình để muốn đối xử với chúng thế nào tùy ý, nhưng là ơn lành Chúa ban và là những cá nhân cũng mang trên mình hình ảnh của Chúa như họ vậy. Vì thế, họ dạy dỗ con cái với sự kính sợ Chúa, với tình yêu và sự tôn trọng nhân vị của con cái. Tuyệt đối họ không sử dụng cách giáo dục con cái bằng bạo lực ,họ dạy con cái không chỉ bằng lời nói suông, nhưng trước hết bằng cuộc sống gương mẫu cụ thể của mình trong mọi lãnh vực: Từ đời sống đức tin, đời sống luân lý đến đời sống xã hội, v.v.
 Tinh thần khiết tịnh: Qua Bí tích Hôn Nhân, Thiên Chúa đã không chỉ liên kết thể xác họ nên một, nhưng cả tinh thần, ý nghĩ và các ham muốn tự nhiên nữa. Tinh thần lời khấn khiết tịnh giúp họ chống lại những cám dỗ lăng loàn của thể xác, chống lại những ham muốn và đòi hỏi bất chính của thể xác. Nhờ có tinh thần khiết tịnh của lời khấn dòng, các Anh Chị Em Phan Sinh sẽ luôn luôn trung thành và yêu thương vợ/chồng của mình, chứ không còn ham muốn tìm kiếm ........ Nói cách khác, sự ý thức và xác tín sống theo tinh thần khiết tịnh của lời khấn dòng đã giúp cho các Anh Chị Em Phan Sinh Tại Thế biết tự chủ và kiềm chế được các ý nghĩ, hành động và lời nói của mình, để không làm tổn thương đến đời sống hôn nhân của mình. Đồng thời cũng giúp họ không coi người bạn đời như đối tượng để thỏa mãn những đòi hỏi tính dục của mình, nhưng là yêu thương và tôn trọng lẫn nhau và cùng giúp nhau thêm lòng yêu mến Chúa và đồng loại hơn. Nói tắt, tinh thần lời khấn khiết tịnh giúp họ trung thành hoàn toàn với nhau trong đời sống hạnh phúc lứa đôi như Chúa muốn.

 Tinh thần khó nghèo: Đặc biệt nhất là tinh thần lời khấn khó nghèo Phanxicô, một điểm đụng chạm trực tiếp tới cuộc sống thực tế nhiều nhất. Khi sống trong bậc giáo dân ở giữa giòng đời, các Anh Chị Em Phan Sinh Tại Thế vẫn sống và sinh hoạt trong các lãnh vực bình thường như tất cả mọi người bình thường khác, nhưng với tinh thần khó nghèo Phanxicô họ lại sống và sinh hoạt một cách không bình thường. Nói cách khác, dù phải sinh nhai kiếm sống bằng tất cả mọi nghề nghiệp thuộc mọi lãnh vực và dù phải tranh đấu vật lộn với mọi khó khăn trắc trở của cuộc sống như mọi người khác, nhưng tinh thần lời khấn khó nghèo Phanxicô là ánh sáng chiếu soi và hướng dẫn họ tranh đấu và vật lộn với cuộc sống một cách hợp lý, đầy tin tưởng và nhân hậu, đúng theo tinh thần bác ái Kitô giáo, giúp cho họ sinh nhai kiếm sống đúng với luật công bằng và nhân ái của Phúc Âm. Nói một cách cụ thể, tinh thần khó nghèo Phanxicô hướng dẫn các Anh Chị Em Phan Sinh Tại Thế biết làm ăn sinh sống một cách lương thiện: Không tham lam hay chiếm đoạt của cải thuộc người khác, không lừa đảo phỉnh gạt, không mánh khóe gian manh một cách bất công trong khi hành nghề kiếm sống; những gì họ có được phải tuyệt đối là của lương thiện. Tiếp đến, với tinh thần khó nghèo Phanxicô, các Anh Chị Em Phan Sinh không coi các của cải của gia đình họ là của riêng một cá nhân, dù chính cá nhân ấy đã trực tiếp tạo nên chúng đi nữa, nhưng là của cải chung của mọi thành viên trong gia đình: Chồng, vợ, và con cái. Và cũng chính tinh thần khó nghèo ấy giúp họ biết tự chủ, biết tự kiềm chế và hành động khiêm tốn trong cuộc sống và cũng như trong các cách cư xử, nghĩa là khi giàu có không khoe khoang, tự cao tự đại, khinh người hay ích kỷ, nhưng giàu lòng từ thiện và biết quảng đại chia sẻ với các anh chị em đồng loại đang trong cơn túng cực, theo gương thánh Phanxicô xưa, vì họ luôn xác tín được rằng mọi của cải họ có được đều là của Chúa, còn họ chỉ là người quản lý các của cải ấy mà thôi; còn khi chẳng may phải thất thế và thua thiệt hay mất mát trong quá trình làm ăn và phải sống thiếu thốn, nghèo khổ, thì luôn biết vui vẻ chấp nhận để học hỏi thêm kinh nghiệm, nhất là biết tín thác vào sự an bài đầy tình thương của Chúa và nỗ lực vượt ra khỏi cơn thử thách để tiến lên, chứ không tuyệt vọng, ngã lòng hay buông xuôi và không phàn nàn hay oán trách bất cứ ai, và tuyệt đối không đành tâm làm những chuyện xằng bậy bất chính..
Để giúp nhau sống và thực hành tinh thần ba lời khấn dòng trên, nhất là tinh thần khó nghèo Phanxicô .Dòng Phan Sinh Tại Thế có Luật Dòng gồm 26 điều -Tổng Hiến Chương gồm 103 điều do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ban hành ngày 24/6/1978 khá chặt chẽ, nhưng hợp lý, phù hợp trong thời đại hôm nay trong bậc sống tại thế .
Ngoài ra Anh Chị Em Phan Sinh Tại Thế sống theo Luật Dòng là phải tham gia .

Tham dự Thánh lễ hằng ngày . Các giờ kinh gia đình ,.đặc biệt là giờ kinh Phụng Vụ . Các cuộc Họp định kỳ bắt buộc . Học hỏi Kinh Thánh là nền tảng Phan Sinh

• Gặp gỡ, thăm viếng, an ủi và động viên nhau trong cuộc sống đời thường cũng như trong cuộc sống đức tin với tinh thần huynh đệ chân thành theo gương thánh Phanxicô.
Anh Chị Em Phan Sinh Tại Thế không chỉ dừng lại trong các sinh hoạt tinh thần mang tích cách nội bộ như trên, nhưng họ còn phụ trách những công tác tông đồ giáo dân, thực thi các việc từ thiện bác ái. Họ chia nhau đi thăm viếng các gia đình nghèo khổ, các người già cả, neo đơn hay đau ốm trong các thôn xóm, và dù chính họ cũng là những người nghèo, họ còn tìm cách giúp đỡ cả về mặt vật chất cho những người đang trong cảnh quá túng thiếu, theo khả năng kinh tế hạn hẹp của họ.
Nhờ ơn Chúa, sự thánh thiện, ý chí nên thánh qua việc thực thi tinh thần ba lời khấn dòng theo gương thánh tổ phụ Phanxicô tất cả chỉ vì . Để làm sáng danh Thiên Chúa hơn
Lạy Chúa từ nhân xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người

                                            Chào bình an và thiện hảo .











Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014

SỬA LỖI ANH EM -CN TN .XXIII .


                                Tin Mừng (Mt 18,15-20) 
Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.
"Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.
 "Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.
  "Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho.  Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ."

 Trong cách sống về mặt văn hóa của người Kitô hữu Việt Nam, có một rào cản về mặt văn hóa .Văn hóa nể trọng . Đó là tính cả nể sợ mất lòng người khác, nhất là làm mất lòng những người có quyền có chức, khiến nhiều người không dám muốn nói lời thật , vì lời thật làm mất lòng  anh chị em mình .Vậy thì chúng ta cần nghe lại Lời Chúa trong Tin Mừng  (Mt 18,15-20 ) mà suy gẫm và đem ra thực hành trong cuộc sống hôm nay .
   
               SỐNG VỚI THIÊN CHÚA
Cả cuộc đời Chúa Ki-tô, việc làm và lời giảng dạy của Ngài đều nhắm vào mục đích duy nhất là mạc khải cho nhân loại nhận biết Tình Yêu của Thiên Chúa dành cho con người lớn lao đến thế nào. Tình Yêu ấy là suối nguồn của mọi tình yêu, tình yêu hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Sống với Thiên Chúa như con cái sống với cha mẹ, như kẻ thụ ơn đối với Đấng ban ơn, như môn đệ sống với Thầy. Sống bằng cả một tấm lòng yêu thương ,tha thứ

Thánh Phao-lô đã nói với giáo đoàn Rô-ma: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái… Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” Lời khuyên quí báu này càng phải được áp dụng trong trường hợp chúng ta muốn góp ý, sửa lỗi anh em,và khi sửa lỗi anh em , chúng ta phải cảnh giác đừng để mình rơi vào cảnh Chúa Giê-su đã cảnh cáo trong Phúc âm Thánh Mát-thêu: “Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới?” (Mt 7,3). Là Kitô hữu chúng ta phải có một tinh thần khiêm hạ, đơn sơ, khiêm tốn và vô vị lợi khi thi hành trách nhiệm sửa lỗi anh em ,và trước khi sửa lỗi anh em , chúng ta phải sửa lỗi của bản thân mình đã ,chúng ta cần phải có lòng kiên nhẫn và dũng cảm vì rất nhiều khi chúng ta sẽ chỉ nhận được một thái độ oán trách, giận dữ, bắt bẻ và tố cáo lại chúng ta .

Chúng ta hãy cầu nguyện cho tất cả những anh chị em Kitô hữu đã vì yếu đuối hay đam mê mà sa ngã và sống trong tội lỗi, để họ mau trở về với Thiên Chúa.

                                      Chúng ta cùng cầu xin Chúa

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

NGƯỜI PHAN SINH TẠI THẾ TỈNH THỨC TRƯỚC ĐỜI TU




“Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Thầy” (Mt 17,24)
 “hãy đi vào cửa hẹp” (Mt 7,13).
Đời sống người Phan sinh tại thế là.Tuân giữ Phúc âm Đức Giêsu Kitô theo gương Thánh Phanxicô Atxidi là Đấng chọn Đức Kitô là trung tâm đời sống của mình trong tương quan với Thiên Chúa .Trên hết mọi sự ,anh chị em hãy thấm nhuần việc đọc Phúc âm thường xuyên bằng cách đi từ Phúc âm đến cuộc sống và từ cuộc sống đến Phúc âm .
Anh chị em tìm cách khám phá con người Đức Kitô đang sống và hành động trong tha nhân,trong Kinh Thánh,và trong các lễ nghi phụng tự .



Khi chúng ta có ơn gọi vào Dòng Phan sinh tại thế , là để dâng mình cho Chúa , là đi vào cửa hẹp (Mt 7,13.)
Dâng mình cho Chúa, tức là sống mật thiết với Chúa. "Thầy là cây nho, các con là cành" (Ga 15,5) là đáp trã lời Chúa mời gọi và trong các điều Chúa mời gọi, có những điều hết sức quan trọng cho đời Thánh hiến .
Điều thứ nhất là đời sống nội tâm, trong tương quan của ta với Chúa
Điều thứ hai là đời sống phục vụ như Chúa phán: "Ta thương xót dân này" (Mt 15,32); "hãy cho họ ăn" (Mt 14,16). Chúa muốn kêu gọi chúng ta hãy thương xót tha nhân. Họ đói của ăn vật chất, và của ăn thiêng liêng, tức là tình thương, các chân lý cứu độ, nhất là sự sống của Chúa, gương sáng về đạo đức.
Điều thứ ba là đời sống tiến thân.Chúa trao cho mỗi người chúng ta một số nén bạc (. Mt 25,14-30), tức là đức tin, thời giờ, sức khoẻ, địa vị, kiến thức, hoàn cảnh tốt, và bảo chúng ta phải sinh lợi ích chung.

Trên thực tế, một số người Thánh hiến đã đáp lại tiếng Chúa gọi bằng những cố gắng tích cực cho đời sống nội tâm .Nhưng cũng có một số người chỉ đáp lại bằng việc theo Chúa , nhưng không đáp lại  lời kêu gọi trên mà tránh đi vào cửa hẹp .

Vậy lỗi phạm của họ là thế nào? Tiên tri Isaia gọi lỗi phạm của họ là sự vô ơn của người con đối với người cha , là sự bất hiếu của người con đã quên tình mẹ cưu mang , và khi người ta không đáp lại những lời Chúa kêu mời , thì người ta xúc phạm đến tình yêu Chúa , và họ sẽ đi vào tình trạng nguội lạnh , không nóng mà củng không lạnh . Mất dần ý thức về tội. Coi những bất trung , vô cảm trước trách nhiệm Chúa giao phó họ coi đó là điều bình thường . Thế nên đời sống nội tâm họ  trống vắng bằng sự tự mãn ,vì một số thành tích bề ngoài ,làm gương xấu và làm mất niềm tin cho mọi người ,nhất là nhửng người chưa biết Chúa. Nhất là làm hoen ố hình ảnh , nét đẹp người Phan sinh tại thế

Qua cái nhìn tổng thể trên đây ,và thực trạng hiện nay , có thễ  ?sẽ giúp cho những anh chị Phụ trách Huấn luyện trong Dòng Phan sinh tại thế có một cách nhìn khái quát hơn trong việc đào tạo anh chị em mới vô Dòng  ,thà chất lượng , còn hơn là số lượng trong thành tích mà chẳng ra gì . Trách nhiệm thuộc về ai ? Lảnh đạo ư ? Hội Đồng ư? Vậy là ai? Xin thưa : Là người PTHL , vậy hảy xem điều 23 Luật Dòng và điều 39 -40 -41-42-43 Tổng Hiến Chương Dòng nói gì về các điều đó .Xem mình có bị Hội Đồng Đoàn áp lực hoặc ràng buộc khi xét duyệt cho Khấn không ? Trách nhiệm là với Chúa các bạn ạ . Vậy thì lấy sự Công Chính làm nền tảng lương tâm ,có thễ làm một ai đó buồn lòng ,thà vậy còn hơn làm mất lòng Chúa vì Chúa trao ban trách nhiệm đó cho ta ,các bạn ạ .
Theo tôi thấy hiện nay tài liệu Huấn luyện trong Dòng không thiếu , tài liệu Dòng Quốc tế tại RôMa củng đều đặn , nhưng theo tôi cái cốt lõi nền tảng là căn tính người Kitô hữu như lời Cha Thánh luôn nhìn nhận Tôi là Kitô hữu , vậy thì nói lên điều gì ?
Toát yếu là nên soạn lại .Giáo lý Hội Thánh Công Giáo . và ưu tiên đưa vào giáo trình cốt lõi chương trình Huấn luyện .
Riêng người PTHL nên xem xét lại trách vụ trong điều 52 câu 3 các mục a,b,c .Còn anh ,chị Phục Vụ nên xem lại điều 51 câu 1 ,2 ,mục c ,mà làm theo sự Công chính là dám bỏ bớt cái TÔI mình đi mà để Tin Mừng Chúa lớn lên trong mình từng ngày,để rồi Tin Mừng Chúa thực sự diễn ra trong cuộc đời mỗi người ,và chảy tràn đến các người khác

Việc đào tạo anh chị em thành những người biết tổ chức, biết hoạt động hội Dòng  là điều tốt. Nhưng điều tốt hơn, sẽ là đào tạo họ nên những người bén nhạy với những mời gọi của Chúa ,  và biết đáp ứng lại những mời gọi ấy.

Là người Phan sinh tại thế chúng ta hãy cầu nguyện nhiều và hãy tự đào tạo mình, để ta có cái tâm biết thuộc về Chúa, biết gắn bó với Chúa, biết dấn thân cho tình yêu Chúa. Và xứng đáng là môn đệ Cha Thánh Phanxicô .
                               
                                      Xin chào bình an và thiện hảo


Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

KHÔNG CÒN LÀ NÔ LỆ - NHƯNG LÀ ANH CHỊ EM


 “Không còn là nô lệ, nhưng là anh chị em”, đó là chủ đề được Đức Thánh Cha Phanxicô chọn cho Ngày Hoà bình thế giới lần thứ 48, sẽ được cử hành vào ngày 01-01-2015.

-Ngày nay, khi hoà bình thế giới lại bị đe dọa trầm trọng và loài người đứng trước những vấn đề to lớn hệ trọng như nạn khủng bố, chạy đua vũ trang, ô nhiễm môi trường sinh sống, và bất công trong các quan hệ quốc tế và đặc biệt trong các trao đổi thương mại giữa các nước giàu và các nước nghèo v.v... thì rất nhiều người trong Giáo Hội Công Giáo và cả ngoài Giáo Hội lại hướng nhìn về Thánh Phanxicô Assisi

 Tại sao? Một vị thánh sống cách đây tám thế kỷ, thử hỏi Ngài có gì để nói với chúng ta hôm nay trước những vấn đề nóng bỏng như trên? Ngài có thể dạy ta điều gì, đặc biệt trong sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình?

Năm 1982, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 800 của vị Thánh thành Assisi, ông Kurt Waldheim lúc bấy giờ là Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc đã gửi cho Dòng Phanxicô một bức thông điệp ngắn nguyên văn như sau:


“Cuộc kỷ niệm 800 năm ngày sinh của Thánh Phanxicô phải là một nguồn cảm hứng cho tất cả chúng ta. Qua việc làm cũng như lời dạy của Ngài, thánh Phanxicô đã trở nên biểu tượng cho Hoà bình, cho việc bảo vệ môi sinh và cho tình thương đối với người nghèo. Chúng tôi thấy sứ điệp cuả Ngài được vang vọng trong một số lý tưởng cao đẹp nhất của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

“Ngài đã chủ trương Hoà bình giữa các dân tộc và yêu cầu các môn sinh của ngài đừng mang vũ khí .Ngày nay Liên Hiệp Quốc hoạt động cho hoà bình và cho việc giải trừ quân bị giữa các quốc gia. Ngài đã biểu lộ tình thương và lòng tôn trọng đối với thiên nhiên và mọi sinh vật . Liên Hiệp Quốc cũng nổ lực cho công cuộc duy trì và bảo vệ môi sinh ở mọi nơi. Ngài là vị thánh của người nghèo . Liên Hiệp Quốc tìm cách chấm dứt nỗi thống khổ và tình trạng bóc lột của hàng triệu con người đang hứng chịu, và Liên Hiệp quốc dứng ra bênh vực quyền lợi người nghèo, người bất túc và nạn nhân của bất công và kỳ thị.

“Thật là đúng lúc để nhắc lại rằng bản huấn thị phổ quát đầu tiên của nhân loại là Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

Anh Chị Em Phan Sinh Tại Thế chúng ta “Còn nhiều việc phải làm để thực hiện giấc mơ của Thánh Phanxicô về một thế giới hoà bình, công bằng và hoà hợp…”

    Phanxicô, con người của hoà bình và hoà giải

Không những Phanxicô mơ về một thế giới hoà bình và hoà hợp mà hơn nữa Ngài đã dấn thân cổ võ và hoạt động cho một thế giới như thế.

Năm 1226, vào những ngày cuối đời nằm trên giường bệnh, Phanxicô rất đau lòng khi nghe tin Đức Giám Mục và ông Thị trưởngAssisi kình địch nhau. Vị Giám mục thì ra vạ tuyệt thông cho ông thị trưởng, còn ông này thì cấm không ai được mua bán hoặc ký kết khế ước với Đức Cha. Phanxicô nói với anh em:

“Thật là xấu hổ cho chúng ta những người làm tôi Chúa, vị Đức giám mục và ông Thị trưởng thù ghét nhau như thế mà chẳng ai đứng ra hoà giải” (Gương trọn lành, 101).

Người ta tự hỏi: thế bản thân Ngài làm được gì khi mà đôi mắt đã gần mù và thân xác kiệt quệ phải nằm một chỗ? Phanxicô đã làm một việc bất ngờ đó là thêm vào bài ca Vạn vật mà Ngài đã sáng tác trước đó ít lâu, một phiên khúc ca ngợi Hoà bình và Tha thứ, rồi gửi anh em đi mời ông Thị trưởng tới Toà Giám mục. Khi ông tới nơi và hai người gặp nhau, các môn đệ thánh Phanxicô nhân danh Ngài, cất tiếng hát bài ca Vạn vật cúng với phiên khúc mới. Và điều ít ai ngờ đã xảy tới: khi tiếng hát vừa dứt, ông Thị trưởng và Đức Giám mục nắm tay nhau nói lời hoà giải và ôm hôn nhau thắm thiết.

Hoà bình là một trong những giá trị cơ bản mà thánh Phanxicô ấp ủ và thực hiện suốt cả cuộc đời. Là một người sống Tin Mừng triệt để, Ngài không thể làm ngơ trước một xã hội xâu xé, đầy bất công và hận thù, bạo lực và chiến tranh. Mỗi lần bắt đầu giảng, Ngài đều nhắc tới Hoà bình với lời chào: “Xin Chúa ban bình an cho anh chị em” (1 Cel 23). Ngài quan niệm nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng như một sứ mạng hoà bình và giao cho các môn đệ sứ mạng đó. Ngài nói với họ:


“Anh em rao giảng hoà bình bằng lời nói, thì cũng phải an hoà trong lòng mình. Đừng làm dịp cho người khác tức giận và vấp ngã, nhưng chớ gì mọi người thấy thái độ hiền hoà của anh em cũng sẽ biết sống hoà bình, nhân hậu và thuận hoà, bởi vì ơn gọi của chúng ta là săn sóc người bị thương, băng bó kẻ bị dập gãy và kêu gọi kẻ lầm lạc trở về”. (Ba người bạn 58).

Rất tiêu biểu cho thái độ của Thánh Phanxicô là chuyến đi Palestin cùng với đoàn quân Thập Tự năm 1218. Vì tinh thần tôn trọng con người và các nền văn hoá, Phanxicô cảm thấy ngỡ ngàng phần nào trước chỉ thị của Đức Giáo Hoàng Innocentio III loan báo cuộc Thập Tự chinh lần thứ 5 chống lại người Hồi Giáo nhằm chiếm lại Thánh Địa. Bởi thế, tuy Ngài cùng đi nhưng không phải như một chiến binh, mà trong tư cách một sứ giả Hoà Bình. Không vũ khí tự vệ, Ngài đến trước đạo quân Hồi giáo và xin phép được gặp vua Hồi. Sử sách kể rằng thái độ bao dung và kính trọng của Thánh Phanxicô cũng như tinh thần yêu chuộng hoà bình của ngài đã để lại ấn tượng tốt đẹp sâu sắc và hơn nữa đã gây được lòng thiện cảm của nhà Vua. Tuy Phanxicô đã không thành công hơn, nhưng cử chỉ của Ngài đã mở đường cho một cach thức quan hệ mới với người Hồi giáo, dựa trên sự hiểu biết, thông cảm và đối thoại thay cho sức mạnh, dù là sức mạnh của vũ khí, của quyền hành, hay của con người tự biết là có chân lý và có văn hoá để ban phát cho kẻ khác.
 Bộ Luật Dòng của Thánh Phanxicô là bộ luật dòng đầu tiên dành nguyên cả một chương để nói về những tu sĩ đi dến giữa người Hồi giáo. Thánh Phanxicô viết rõ là ”đến giữa” chứ không phải “đi tới”. Điều đó có nghĩa là người Hồi giáo tiên vàn không phải là một mục tiêu để chinh phục cho kỳ được, mà là người để các anh em cùng sống với. Bởi thế, thánh nhân vạch ra cho anh em thừa sai hai cách truyền giáo: một là sống hiền lành, hiếu hoà không tranh luận hoặc kiện tụng, sống khiêm nhường tùng phục mọi người vì Chúa, và nhận mình là người Công giáo. Hai là nếu thấy đó là thánh ý Chúa thì mới rao giảng Lời Chúa (Bản Luật II, ch.16). Qua kiểu nói của thánh Phanxicô, ta thấy rõ là cách thứ nhất là cách phổ biến và ưu tiên, cách thứ hai (tức là rao giảng) là cách đặc biệt, cần được Chúa tỏ cho biết mới dùng tới.

Bất kỳ ở đâu người môn đệ Phanxicô phải ăn ở như những người “anh em” và những người “hèn mọn” đúng như tên gọi của họ là Anh Em Hèn Mọn. Ngài viết trong luật dòng: “Tôi khuyên anh em khi đi ra giữa đời, đừng gây sự và cãi vã với ai, cũng đừng xét đoán ai, những hãy hiền lành, hiếu hoà và từ tốn, nhân hậu và khiêm nhường, ăn nói tử tế với hết mọi người sao cho xứng hợp” (Luật I, ch.3).
Trong bản Luật Dòng Ba ( Dòng Phan Sinh Tại Thế ngày nay ) tức là luật cho những người ở bậc giáo dân, sống trong gia đình nhưng theo tinh thần thánh Phanxicô, có một qui đinh rất đặc biệt là cấm tất cả các thành viên dòng ba mang vũ khí và tuyên thệ. Trong chế độ phong kiến thời ấy, người dân phải tuyên thệ trung thành với các lãnh chúa. Hậu quả là các lãnh chúa phải bảo vệ con dân của mình, song nghĩa vụ của người dân còn nặng nề gấp bội: họ phải thần phục lãnh chúa, phải nộp sưu nộp thuế, và phải mang vũ khí đánh giặc cho lãnh chúa. Mà thời đó, chiến tranh giữa các lãnh chúa là việc quá thông thường. Một qui định như qui định của luật Dòng Ba Phanxicô, có nghĩa thực tế như một sự từ chối trật tự phong kiến và phản đối chiến tranh. Và dĩ nhiên là các thành viên Dòng Ba bị các lãnh chúa bắt bớ nhưng bằng nhiều sắc chỉ liên tục, các Đức Giáo Hoàng Hônôriô III và Grêgôriô IX đã bảo vệ họ thành công.
Quả thực thánh Phanxiô đã góp phần to lớn vào việc hoà giải trong môi trường Kitô giáo và làm dịu bớt mối quan hệ thù nghịch giữa Kitô giáo và Hồi Giáo trong thời đại Ngài, bằng những hành động cụ thể và nhất là bằng cách gợi ra một mô hình xã hội mới, dựa trên một cái nhìn mới mẻ về con người, về xã hội và về thiên nhiên tạo vật.
Hoạt động ráo riết của thánh Phanxiô cho Hoà Bình phát xuất từ một ý thức hết sức mãnh liệt về toàn thể loài người và đến cả vạn vật như một gia đình, và về thế giới này như một mái nhà chung. Người ta phải sống với nhau như anh em. Hơn nữa con người cũng phải yêu mến và kính trọng thiên nhiên tạo vật như phát sinh cùng một nguồn gốc với mình. 
Lạy Chúa, xin làm cho anh chị em Phan Sinh Tại Thế chúng con nên khí cụ hòa bình của Chúa .Amen